Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THU HÚT VÀ SỬ DỤNG NGUỒN VỐN ODA 1. Khái niệm ODA ODA là tên gọi tắt của ba chữ tiếng Anh: Official Development Assistance, có nghĩa là Hỗ trợ phát triển chính thức hay còn gọi là Viện trợ phát triển chính thức. Phụ thuộc vào các quan điểm, các cách tiếp cận khác nhau và đặc điểm của nguồn vốn mà các tổ chức sẽ đưa ra các khái niệm khác nhau: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) (2018) đưa ra khái niệm về nguồn vốn ODA như sau: Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) được định nghĩa là viện trợ của chính phủ được thiết kế để thúc đẩy sự phát triển kinh tế và phúc lợi của các nước đang phát triển. Trong đó, các khoản cho vay và tín dụng cho mục đích quân sự bị loại trừ.
Viện trợ có thể được cung cấp song phương, từ nhà tài trợ đến người nhận, hoặc chuyển qua một cơ quan phát triển đa phương như LHQ hoặc WB. Viện trợ bao gồm các khoản viện trợ không hoàn lại, các khoản cho vay "mềm" và cung cấp hỗ trợ kỹ thuật. OECD duy trì danh sách các quốc gia và vùng lãnh thổ đang phát triển; chỉ viện trợ cho các nước này được coi là ODA. Mục tiêu lâu dài của Liên hợp quốc là các nước phát triển nên dành 0,7% tổng thu nhập quốc dân cho ODA.
Ngân hàng thế giới (World Bank) (2010) đưa ra định nghĩa về nguồn vốn ODA như sau: Hỗ trợ phát triển chính thức ròng là dòng giải ngân (ròng trả nợ gốc) đáp ứng định nghĩa DAC về ODA và được thực hiện cho các quốc gia và vùng lãnh thổ trong danh sách DAC nhận viện trợ. Hỗ trợ phát triển chính thức ròng (ODA) bao gồm giải ngân các khoản vay được thực hiện theo các điều khoản ưu đãi (ròng để trả nợ gốc) và các khoản viện trợ không hoàn lại của các cơ quan chính thức của các thành viên Ủy ban Hỗ trợ Phát triển (DAC), bởi các tổ chức đa phương và của các nước không thuộc DAC nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế và phúc lợi ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trong danh sách DAC của các nước nhận ODA. Nó bao gồm các khoản cho vay có yếu tố trợ cấp ít nhất là 25% (được tính theo tỷ lệ chiết khấu 10%). Theo Nghị định mới nhất số 114/2021NĐ-CP của Chính phủ Việt Nam về quản lý và sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi của nhà 7 tài trợ nước ngoài ban hành ngày 16/12/2021 nêu định nghĩa ODA: Vốn ODA, vốn vay ưu đãi là nguồn vốn của nhà tài trợ nước ngoài cung cấp cho Nhà nước hoặc Chính phủ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam để hỗ trợ phát triển, bảo đảm phúc lợi và an sinh xã hội, bao gồm: Vốn ODA không hoàn lại là khoản vốn ODA không phải hoàn trả lại cho nhà tài trợ nước ngoài; Vốn vay ODA là khoản vay nước ngoài có thành tố ưu đãi đạt ít nhất 35% đối với khoản vay có điều kiện ràng buộc liên quan đến mua sắm hàng hóa và dịch vụ theo quy định của nhà tài trợ nước ngoài hoặc đạt ít nhất 25% đối với khoản vay không có điều kiện ràng buộc.
Khái quát thì ODA được hiểu là một khoản viện trợ từ một quốc gia hay tổ chức quốc tế đến quốc gia khác (thường là từ quốc gia phát triển đến quốc gia đang phát triển) để hỗ trợ về mặt tài chính. Nguồn vốn ODA cũng là một khoản nợ, quốc tiếp nhận có nghĩa vụ trả nợ trong tương lai nhưng không phải trả toàn bộ mà trong đó phần không phải hoàn lại ít nhất là 25% tổng giá trị nguồn vốn được tiếp nhận. Đặc điểm của ODA 1. ODA mang tính ưu đãi Đặc trưng của nguồn vốn ODA để phân biệt với các nguồn vốn khác nằm ở tính ưu đãi.
Mục tiêu của ODA là viện trợ các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, giúp các quốc gia này phát triển kinh tế và nâng cao hiệu quả đầu tư. Tính ưu đãi của nguồn vốn ODA được thể hiện ở các đặc điểm: Thứ nhất, ODA là nguồn vốn dành riêng cho các quốc gia đang phát triển và kém phát triển. Các quốc gia này muốn nhận được viện trợ từ nguồn vốn ODA thì cần đáp ứng 2 điều kiện: Tổng sản phầm quốc nội (GDP) bình quân đầu người thấp. Quốc gia có GDP bình quân đầu người càng thấp thì nhận được tỉ lệ viện trợ không hoàn lại càng lớn, và khả năng vay với lãi suất càng thấp, thời hạn trả nợ càng dài.
Các quốc gia khi tăng trưởng vượt qua ngưỡng nghèo đói thì mức độ ưu đãi cũng sẽ giảm theo. Và mục tiêu sử dụng ODA của các quốc gia tiếp nhận với chính sách và phương hướng trong mối quan hệ giữa quốc gia viện trợ ODA và quốc gia nhận viện trợ ODA. Thông thường các quốc gia viện trợ ODA đều có những chính sách và ưu tiên riêng của mình, tập trung vào một số lĩnh vực mà quốc gia đó quan tâm hoặc có 8 khả năng kỹ thuật và tư vấn. Đồng thời, đối tượng ưu tiên của các quốc gia viện trợ ODA cũng có thể thay đổi theo từng thời kì, từng giai đoạn cụ thể.
Thứ hai, lãi suất thấp, thời gian trả nợ và thời gian ân hạn dài: Khối lượng vốn vay thường rất lớn từ vài chục đến vài trăm triệu USD, tuy nhiên lãi suất lại rất thấp, thường thấp hơn lãi suất thị trường (khoảng < 3%), thời gian cho vay, hoàn trả vốn vay và trả lãi thường khá dài. Và thường có thêm thời gian ân hạn cũng khá dài. Thứ ba, tính ưu đãi của nguồn vốn ODA còn thể hiện ở tính phúc lợi xã hội: Nguồn vốn ODA với mục tiêu XĐGN, nâng cao phúc lợi xã hội nên lĩnh vực đầu tư chủ yếu của ODA là các lĩnh vực không hoặc ít sinh lợi nhuận, thường là các dự án, công trình công cộng mang tính chất phúc lợi xã hội như các DA đầu tư vào cơ sở hạ tầng, các công trình giao thông, giáo dục đào tạo, y tế, nông nghiệp, phát triển nông thôn và xóa đói giảm nghèo. Theo Nghị định số 114/2021/NĐ-CP ban hành ngày 16/12/2020 của Chính phủ về quản lý và sử dụng nguồn ODA và nguồn vốn vay ưu đãi của các nhà tài trợ, công thức xác định thành tố không hoàn lại của các DA ODA như sau: 𝑟 1 1 − 𝑎 (1+𝑑)𝑎𝐺 (1+𝑑)𝑎𝑀 GE = 100% x ( ) x {1 - } 𝑑 𝑑(aM−aG) Trong đó: GE: Thành tố không hoàn lại (%).
r: Tỷ lệ lãi suất hàng năm (%). a: Số lần trả nợ trong năm. d: Tỷ lệ chiết khấu của mỗi kỳ: d = (1 + d’)1/a - 1 (%). d’: Tỷ lệ chiết khấu của cả năm.
G: Thời gian ân hạn (năm). M: Thời hạn cho vay (năm). ODA mang tính ràng buộc Đi kèm với viện trợ về vốn, ODA thường có các ràng buộc liên quan về kinh tế và chính trị. Viện trợ của các quốc gia phát triển không chỉ là việc trợ giúp mang tính hữu nghị, mà còn là một công cụ lợi hại để thiết lập và duy trì mối quan hệ kinh tế và vị thế chính trị, từ đó tạo ra sức ảnh hưởng của mình đến các quốc gia và khu vực tiếp nhận.
Tùy theo khối lượng vốn ODA và loại hình viện trợ mà nguồn vốn ODA có thể kèm theo những điều kiện ràng buộc nhất định. Những điều kiện ràng buộc này có thể là ràng buộc một phần và cũng có thể là ràng buộc toàn bộ về kinh tế như quốc gia viện trợ phải là thị trường tiêu thụ sản phẩm, thị trường đầu tư cho các quốc gia nhận viện trợ, phải thực hiện chính sách kinh tế phù hợp với quốc gia viện trợ. Thêm vào đó là những ràng buộc về xã hội và thậm chí cả ràng buộc về chính trị. Kể từ khi ra đời đến nay, viện trợ ODA luôn luôn chứa đựng hai mục tiêu cùng tồn tại song song đó là thúc đẩy tăng trưởng bền vững, xóa đói giảm nghèo ở những quốc gia tiếp nhận viện trợ và tăng cường vị thế chính trị của các quốc gia viện trợ.
Chính vì vậy khi tiếp nhận viện trợ ODA, các quốc gia tiếp nhận cần xem xét kĩ lưỡng các điều kiện, yêu cầu mà quốc gia viện trợ đề ra. Quan trọng hơn, cần tuân thủ nguyên tắc quan hệ hỗ trợ phát triển chính thức phải đảm bảo tôn trọng toàn vẹn lãnh thổ của nhau, không can thiệp vào công tác nội bộ của nhau, bình đẳng và hai bên cùng có lợi. ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ Ban đầu khi mới tiếp nhận, các quốc gia tiếp nhận viện trợ sẽ chưa thấy được gánh nặng nợ nần do nguồn vốn ODA bởi vì đây là nguồn vốn vay có lãi suất thấp và thời gian cho vay khá dài. Tuy nhiên, ODA chỉ mang tính ưu đãi chứ không phải nguồn vốn cho không.
Vì vậy, đến một thời điểm nhất định, các quốc gia tiếp nhận sẽ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Một số quốc gia do không sử dụng hiệu quả nguồn vốn ODA có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất thời nhưng sau một thời gian lại lâm vào vòng nợ nần do không có khả năng trả nợ. Vấn đề ở đây là các quốc gia khi tiếp nhận 10 ODA đã chấp nhận các ràng buộc từ trước về các lĩnh vực, mục tiêu sử dụng nguồn vốn ODA do các quốc gia viện trợ đề ra, mà không sử dụng nguồn vốn ODA để đầu tư trực tiếp cho sản xuất, nhất là cho xuất khẩu để thu ngoại tệ trong khi việc trả nợ lại chủ yếu dựa vào nguồn ngoại tệ. Do đó, trong khi hoạch định chính sách sử dụng nguồn vốn ODA phải phối hợp với các nguồn vốn khác để tăng cường sức mạnh kinh tế và khả năng xuất khẩu.
Mặt khác, rủi ro về tỷ giá là một trong những nguy cơ đáng quan tâm dẫn đến các quốc gia lâm vào cảnh nợ nần. Vốn ODA là vốn vay dài hạn bằng đồng ngoại tệ, trong khi đó thì các quốc gia tiếp nhận viện trợ là các quốc gia đang phát triển và kém phát triển, có tốc độ tăng trưởng kinh tế thấp, đi kèm với tỉ lệ lạm phát cao và đồng tiền trong nước mất giá so với đồng tiền ngoại tệ. Đến thời điểm trả nợ, đồng tiền của quốc gia nhận viện trợ mất giá so với đồng tiền ngoại tệ đã vay làm cho quốc gia nhận viện trợ phải mất một lượng nội tệ nhiều hơn để mua lượng ngoại tệ đã vay để trả nợ. Vai trò của ODA 1.