Chương 1 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Dịch tễ học tai nạn thương tích 1. Các định nghĩa và khái niệm CO’ bản cuả tai nạn thương tích. Định nghĩa: Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO), tai nạn thương tích là bất cứ tổn thương nào về mặt thê chất do sự truyền năng lượng quá sức chịu đựng của cơ thể người được gây nên một cách cấp tính hoặc trong thời gian ngắn.
Đó có thế là tổn thương cho cơ thể do phơi nhiễm cấp tỉnh với các dạng năng lượng cơ học, nhiệt học, hóa học, điện học tới mức vượt quá sức chịu đựng của cơ thể hoặc làm cơ thể suy yếu do sự thiếu vắng các yếu tố thiết yếu (nước, không khí, sức nóng) như đuổi nước, ngạt thở hay bị lạnh cóng [38, tr. Phân loại: • TNTT không chủ đích và có chủ đích: TNTT không chủ đích (vô ý): Thương tích gây nên không chủ ý của những người bị TNTT hay của những người khác (VD: chấn thưong do giao thông, do ngã, lửa cháy, chết đuối, ngộ độc). TNTT có chủ đích: Thương tích gây nên có sự chủ đích của người bị TNTT hay của người khác như tự tử, giết người, bạo lực nhóm (chiến tranh), đánh nhau, hiếp dâm, hành hạ trẻ em, người già, bạo lực học đường. • Phân loại tai nạn thương tích theo nguyên nhân: Tai nạn giao thông: là những trường họp tai nạn xảy ra do sự va chạm bất ngờ, nằm ngoài ý muốn của con người, xảy ra khi các đối tượng tham gia giao thông đang hoạt động trên đường giao thông công cộng, đường chuyên dùng hoặc ở địa bàn giao thông công cộng; nhưng do chủ quan vi phạm luật lệ giao thông hoặc do gặp phải tình huống, sự cố đột xuất không kịp phòng tránh, gây ra thiệt hại về tính mạng hoặc sức khỏe.
Tai nạn lao động: Là những trường họp bị chấn thương xảy ra khi đang làm việc tại các công trường, nhà máy, cơ quan xí nghiệp, hoặc xảy ra tại gia đình làm tổn thương các bộ phận cơ thể. 5 Ngộ độc: Là những trường họp hít phái, ăn vào, tiêm vào cơ thể các loại độc tố dẫn đến tử vong hoặc cần đến sự chăm sóc về y tế. Tổn thương do ngộ độc còn có thể theo nguyên nhân: Ngộ độc thức ăn hoặc ngộ độc do các chất độc khác. Bạo lực/xung đột: Là nhũng hành động sử dụng vũ lực hăm dọa hoặc đánh đập người, nhóm người, cộng đồng dẫn đến tình trạng tử vong, chấn thương.
Ngã: Là những trường họp do bị ngã, rơi từ trên cao hoặc ngã trên cùng một mặt bằng. Đuối nước: Là những trường hợp xảy ra do bị chìm trong chất lỏng (nước, xăng dầu,.) dẫn đến ngạt do thiếu oxy hoặc do ngừng tim dẫn đến tử vong trong vòng 24 giờ. Do vật sắc nhọn.* Là những trường họp bị cắt, rách do tác động trực tiếp của những vật sắc nhọn trong hộ gia đình như dao, kéo.* Là tổn thương một hoặc nhiều lóp tế bào da khi tiếp xúc với chất lỏng nóng, chất rắn nóng, lửa. Các tổn thương da do sự phát xạ của tia cực tím hoặc phóng xạ, điện, chất hóa học cũng như tổ thương phổi do bị khói xộc vào cũng được coi là trường họp bỏng.
Động vật côn trùng tấn công.* Là những trường hợp tổn thương do động vật/côn trùng tấn công, húc, đâm phải. Vật cùn rơi vào.* Là những trường hợp nạn nhân bị tổn thương do sự tác động của vật cùn lên cơ thể.* Là những trường họp do tiếp xúc trực tiếp bom/mìn nổ gây sát thương cho nạn nhân Tự tử/có ý định tự tử: Là những trường họp cố ý (có chủ định) gây tổn thương cho mình.* Là tất cả các trường họp xảy ra do nguyên nhân nào đó gây tắc nghẽn đường hô hấp dẫn đến ngạt do thiếu oxy hoặc ngừng tim trong vòng 24 giờ hoặc càn đến sự chăm sóc y tế hoặc bị các biến chứng khác. Ngạt có thể do chất lỏng, chất khí hay các dị vật đường hô hấp. 6 Trong nghiên cứu này, chúng tôi chỉ tập trung vào 4 loại tai nạn thương tích chính: Tai nạn giao thông, tai nạn lao động, bạo lực/xung đột và ngộ độc.
Còn các loại thương tích còn lại nhóm vào loại tai nạn thương tích khác. Các mô hình áp dụng trong phân tích sự kiện xảy ra tai nạn thưong tích - Mô hình dịch tễ học tai nạn thưong tích. Theo đó, mỗi một tai nạn thương tích được đặc tính hóa như một bệnh truyền nhiễm. Tác nhân ở đây bao gồm 03 dạng năng lượng chính: Năng lượng cơ học, năng lượng nhiệt và năng lượng hóa học.
Ngoài ra, sự thiếu vắng đột ngột một số yếu tố thiết yếu như sức nóng, oxy cũng gây ra TNTT. Các loại năng lượng này độc lập hoặc phối họp với nhau gây ra tai nạn thương tích. Mô hình này xác định các yếu tố nguy cơ, các nhóm đích trả lời các câu hỏi: Ai? Cái gì? Khi nào? Và ở đâu? Khi sự kiện sảy ra.1: Mô hình dịch tễ học tai nạn thưong tích [50, tr, 5 - 10| Mô hình chuỗi TNTT là một phương án hữu ích khác trong phân tích TNTT. Theo mô hình này, một sự kiện xảy ra được sơ đồ hóa theo trục thời gian, bắt đầu từ những phơi nhiễm có nguy cơ của vật chủ, tới tình huống xảy ra TNTT, tiếp đến là sự kiện TNTT xảy ra, và cuối cùng có thể là giảm chức năng hoặc tử vong.2: Mô hình chuỗi các sự kiện xảy ra tai nạn thương tích Cũng như mô hình trình bày ở trên, mô hình chuỗi sự kiện xảy ra TNTT giúp các nhà nghiên cứu nghĩ đến cái gì xảy ra ở từng giai đoạn của chấn thương, từ đó có thể đưa ra các phương án để ngăn chặn chấn thương xảy ra hoặc làm giảm trầm trọng của chấn thương nếu chấn thương xảy ra.
Dựa theo mô hình chuỗi các sự kiện xảy ra ở trên, có 3 cấp độ dự phòng. - Dự phòng cấp 1: Giảm khả năng xảy ra TNTT (dự phòng không cho TNTT xảy ra). - Dự phòng cấp 2: Khi tai nạn thương tích đã xảy ra, giảm sự trầm trọng của TNTT bằng cách sơ cấp cứu tốt và kịp thời, bảo hộ. - Dự phòng cấp 3: Giảm hậu quả của TNTT bằng cách điều trị hợp lý, phục hồi chức năng.
c) Ma trận Haddon Năm 1970, William Haddon Jr. đưa ra một công cụ khác để phân tích một tình huống TNTT. Đó là một ma trận với sự kết hợp các điểm nổi bật của mô hình TNTTvà chuỗi sự kiện xảy ra TNTT. Ma trận Haddon cho phép xem xét đồng thời cả các yếu tố (vật chủ, vật trung gian, môi trường) và các quá trình theo thời gian của một tình huống TNTT.
Theo đó, ma trận Haddon có thể sử dụng để phân tích mọi tình huống TNTT khác nhau, từ đó đưa ra các phương án dự phòng để ngăn chặn sự kiện xảy ra hoặc làm giảm sự trầm trọng của TNTT nếu TNTT đã xảy ra [50, tr. Khung lý thuyết nghiên cứu Từ các mô hình dịch tễ học, mô hình chuỗi sự kiện xảy ra tai nạn thương tích, ma trận Haddon. Chúng tôi xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu này như sau: 8 Hình 1.3: Khung lý thuyết YÉƯ TÓ MỒI TRƯỜNG • Thời tiêt • Thời gian trong ngày • Tính chất công việc • Hạ tầng giao thông • Trang thiết bị bảo vệ TAI NẠN TRƯỚC KHI XẢY RA TẠI THỜI ĐIẾM HẬU QUẢ SAU TAI NẠN TAI NẠN THƯƠNG TÍCH TAI NẠN XẢY RA THƯƠNG TÍCH YẾU TỐ CÁ NHÂN • Tuổi • Giới • Trình độ học vấn • Nghề nghiệp • Trạng thải thể chất • Trạng thái tâm thần 9 • Sử dụng chất kích thích Chúng tôi phân tích các trường hợp TNTT tại 3 thời điểm: Thời điểm trước sự kiện xảy ra TNTT, trong sự kiện và sau sự kiện. Trước khi xảy ra TNTT: Các thông tin cá nhân được thu thập qua phỏng vấn BN như: Tuổi, giới, nghề nghiệp, trình độ học vấn, tham gia bảo hiểm, thu nhập của BN trước khi xảy ra TNTT.
Tất cả các thông tin này được ghi chép đầy đủ, chính xác và có đối chiếu với Hậu quả vê y tê: - Từ vong - Tàn tật/mất khả năng - Nằm viện Hậu quá về kinh tế xã hội: - Chi phí trực tiếp do điều trị. - Chi phí trực tiếp không do điều trị. - Chi phí gián tiếp: Mất việc làm, giàm thu nhập - Nguồn chi phí Chi phí trực tiếp do điều trị. - Chi phí trực tiếp không do điều trị (ăn uống, đi lại, sửa chữa phưomg tiện - Chi phí gián tiếp: Giảm thu nhập, mất việc làm.
10 bệnh án nhập viện của BN. Bên cạnh đó, các thông tin về việc sử dụng rượu, bia trước khi xảy ra TNTT cũng được quan tâm để xác định các yếu tố nguy cơ xảy ra TNTT. Việc sơ cấp cứu trước viện của nạn nhân cũng được thu thập để góp phần làm hạn chế tổn thương sau khi xảy ra các sự kiện. Tại thời điểm xảy ra TNTT: Hoàn cảnh khi xảy ra TNTT trong đó có thời gian, địa điểm, cơ chế TNTT: Đối với mỗi loại TNTT đều xác định rõ các nguyên nhân dẫn đến TNTT.
Các mức độ trầm trọng của chấn thương, vị trí chấn thương theo giải phẫu, chẩn đoán, xử trí và điều trị tại viện được đối chiếu với bệnh án của BN tại các khoa phòng. Hậu quả do TNTT:: Với mục tiêu đo lường tác động của tai nạn thương tích và tìm hiểu các yếu tố liên quan đến các tác động này, nghiên cứu thu thập các hậu quả về tác động kinh tế, sức khỏe và cả những tác động xã hội do tai nạn thương tích gây nên. Tác động kỉnh tế là nhũng chi phí bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí gián tiếp và được quy ra đơn vị là tiền tệ. Chúng tôi áp dụng cách tiếp cận dựa vào số mới mắc, nghĩa là thu thập thông tin về ảnh hưởng kinh tế từ các trường hợp tai nạn thương tích mới xảy ra trong khoảng thời gian tập họp tại bệnh viện và từ đó xác định các tổn thất về kinh tế liên quan đến các trường họp tai nạn thương tích này.
Áp dụng phương pháp đánh giá Nguồn vốn con người (Human capital) để ước lượng các khoản phải chi (chi phí/tổn thất trực tiếp) và các khoản bị mất đi (chi phí/tổn thất gián tiếp) do tai nạn thương tích. Trong phương pháp này, tổn thất trực tiếp bao gồm tất cả những khoản liên quan đen tai nạn thương tích mà nạn nhân và gia đình/những nguời chăm sóc phải bỏ tiền ra để chi trả. Trong khi đó tổn thất gián tiếp là những khoản do tai nạn thương tích mà nạn nhân và gia đình bị mất đi.