Chương 1: Tổng quan về cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu ở TP. Hồ Chí Minh Đề tài về người Hoa từ lâu đã được nhiều học giả nghiên cứu bao gồm nhiều lĩnh vực rộng khắp từ kinh tế, văn hóa, tín ngưỡng, chữ viết và ngôn ngữ, do đó chúng tôi đã sử dụng phương pháp tra cứu tài liệu, phân tích, thống kê những nội dung cần thiết nhằm giúp đọc giả có cái nhìn tổng quan về cộng đồng người Hoa một cách tương đối về lịch sử di cư, quá trình hình thành các nhóm cộng đồng, đời sống kinh tế, văn hóa, ngôn ngữ cũng như đúc kết những điểm nội bật của cộng đồng này, đặc biệt là cộng đồng gốc Triều Châu- chủ thể nghiên cứu của công trinh này. Chương 2: Việc sử dụng ngôn ngữ trong cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu ở TP. Hồ Chí Minh Việc sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng Triều Châu khá phức tạp, người Triều Châu hiện nay ít sống tập trung đông đúc như trước nên ít nhiều cũng gây khó khăn cho việc nghiên cứu.
Tác giả đã tìm hiểu khu vực có đông người Triều Châu sinh sống như quận 5, quận 11, thông qua các mối quan hệ của cộng đồng này để thực hiện việc khảo sát nhanh và phỏng vấn sâu, quay phim, chụp ảnh, ghi âm để từ đó tiến hành phân tích, tổng hợp những tư liệu cần thiết một cách tỉ mỉ nhằm đúc kết tình hình sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng này. Chương 3: Việc sử dụng ngôn ngữ ngoài cộng đồng người Hoa gốc Triều Châu ở TP. Hồ Chí Minh Ngoài cộng đồng Triều Châu, các nhóm cộng đồng còn lại cũng có đặc điểm sử dụng ngôn ngữ của minh, nhất là nhóm có dân số chiếm ưu thế hơn cà - nhóm Quảng Đông. Đề tài tiếp tục thực hiện phỏng vấn một số người thuộc các nhóm ngôn ngữ khác đồng thời thực hiện khảo sát về thái độ ngôn ngữ và kỳ vọng của người Triều Châu đối với các ngôn ngữ hiện hành.
TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI HOA GỐC TRIỀU CHÂU Ở TP. HỒ CHÍ MINH Sài Gòn được xem là mảnh đất có sự giao thoa của nhiều nền văn hóa cả trong và nước ngoài. Trong đó, nổi bật nhất phải kể đến sự phát triển của cộng đồng người Hoa thuộc các phương ngữ Quảng Đông, Triều Châu, Khách Gia, Hải Nam, Phúc Kiến. Lịch sử hình thành cộng đồng người Hoa ở TP.
Hồ Chí Minh Theo số liệu thống kê, người Hoa ở nước ta có khoảng một triệu người, là nước có số người Hoa ít nhất so với các nước Asian trừ Brunei. Riêng ở đồng bằng Nam Bộ có hơn 630 nghìn người (hơn 80%), ở TP. Hồ Chí Minh có hơn 500 nghìn người, đó là địa bàn cư trú tập trung đông người Hoa nhất ở nước ta hiện nay1, chiếm gần 15% dân số toàn thành phố. Người Hoa cư trú rải rác trong nhiều quận huyện của thành phố, đông nhất là tập trung sinh sống ở các quận 5 (chiếm khoảng 45% dân số của quận), quận 11 (chiếm khoảng 45% dân số toàn quận) và các quận 10, quận 6, quận Tân Bình 2.
Trong quá trình lịch sử xây dựng và phát triển, cộng đồng người Hoa đã có nhiều đóng góp tích cực và to lớn, có một vị trí kinh tế - xã hội quan trọng. Khi nói đến khái niệm “ người Hoa”, hẳn sẽ có sự nhầm lẫn với khái niệm “Hoa kiều” hoặc cho rằng người Hoa chính là người Trung Quốc và chính sự nhầm lẫn này đôi khi gây nên những hiểu lầm trong việc nghiên cứu về cộng đồng người Hoa. Theo "Thông báo của Văn phòng Hoa kiều thuộc Quốc vụ viện Trung Quốc” đăng trên trang thông tin của Văn phòng Hoa kiều Quốc vụ viện Trung Quốc ngày 25/11/2015 : Hoa kiều là công dân Trung Quốc định cư ở nước ngoài, và" định cư "có nghĩa là công dân Trung Quốc đã cư trú lâu dài tại quốc gia khác, tư cách cư trú hợp pháp được coi là Hoa kiều; Công dân Trung Quốc du 1 Nghị Đoàn, Báo Thông tin Khoa học Dân tộc, 2006. 2 Ban dân tộc Thành phố Hồ Chí Minh, kết quả tổng điều tra dân số năm 2019.
12 học (bao gồm cả công và tự học) ra nước ngoài, đi công tác nước ngoài (kể cả lao động nước ngoài) trong thời gian làm việc không được coi là Hoa kiều. Vào cuối thời nhà Thanh và Trung Hoa Dân Quốc, thuật ngữ "Hoa kiều" được dùng để chỉ những người gốc Hoa sống ở nước ngoài. Quy định quốc tịch của Chính phủ nhà Thanh (1909), Luật Quốc tịch sửa đổi của Chính phủ quân phiệt Bắc Dương (1914), Hoa kiều hồi hương tiếp tục giữ quốc tịch Trung Quốc của họ, nghĩa là cái gọi là "mong đợi con cháu của họ tiếp nối", bất kể số lượng dòng họ của họ còn quốc tịch Trung Quốc. Vì vậy, tất cả những người gốc Hoa sống ở nước ngoài đều được coi là Hoa kiều.
Sau khi nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập, để giải quyết vấn đề Hoa kiều còn sót lại trong lịch sử và tạo điều kiện thiết lập quan hệ hữu nghị, láng giềng tốt đẹp và tin cậy lẫn nhau với các nước có liên quan. Năm 1955, Chính phủ Trung Quốc chính thức thông báo không chấp thuận vấn đề Hoa kiều song tịch, đồng thời ký hiệp ước với các nước liên quan để giải quyết vấn đề song tịch của Hoa kiều. Vào tháng 9 năm 1980, chính phủ Trung Quốc ban hành Luật Quốc tịch của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, nêu rõ: “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa không công nhận hai quốc tịch cho công dân Trung Quốc” (Điều 3) và “Công dân Trung Quốc cư trú ở nước ngoài tự nguyện gia nhập hoặc nhập quốc tịch nước ngoài, người nào có quốc tịch nước ngoài thì đương nhiên mất quốc tịch Trung Quốc ”. “Người Đường” ( Tang ren; Đường nhân ) là cách gọi được sử dụng phổ biến ở Quảng Đông, Hồng Kông và Macao, những người sử dụng tiếng Quảng Đông, phương ngữ Phúc Châu và những người nhập cư hay gọi là “Đường nhân”.
Khu phố Tàu là khu phố nơi người Hoa sinh sống theo phương ngữ Quảng Đông và Phúc Kiến, tên này thường được người Hoa ở nước ngoài sử dụng. Một số quốc gia, chẳng hạn như Nhật Bản, cho đến thời hiện đại vẫn gọi người Trung Quốc là người Đường. Đó chính là bởi vì nhà Đường là một triều đại tiêu biểu và thịnh vượng trong lịch sử Trung Quốc, và trên thực tế nó cũng liên quan đến sự cởi mở của văn hóa nhà Đường thời bấy giờ do thường xuyên giao lưu với nước ngoài. Và tên gọi “Người Đường” bắt đầu thịnh hành sau giữa thế kỷ 19.
Sau thế kỷ 20, mặc dù cách gọi này nhìn chung không được sử dụng phổ biến bởi người Trung Quốc nhưng nó vẫn được thấy trong tên địa danh ở 13 nhiều quốc gia khác nhau, chẳng hạn như China Town ở Mỹ, Canada, Thái Lan (Khu phố Tàu). “Người Hoa” là thuật ngữ có ý nghĩa gần giống như thuật ngữ “Đường nhân”, dùng để chỉ những người có tổ tiên là người Trung Quốc hoặc từng sống ở Trung Quốc đại lục nhưng hiện nay không mang quốc tịch Trung Quốc, họ là những người định cư lâu dài ở nước khác và đã mang quốc tịch của nước khác. Có thể đưa ra khái niệm sơ bộ về người Hoa dựa vào những phạm trù sau : Có nguồn gốc Hán hay bị Hán hóa; sống ổn định và thường xuyên ở nước ngoài; đã nhập quốc tịch nước sở tại; ít hoặc nhiều chưa bị đồng hóa ; tự nhận mình là người Hoa. Người Hoa còn có tên gọi khác là Khách, Hán, Tàu.
Nhóm địa phương gồm: Quảng Ðông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ.Về ngôn ngữ, tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán (Ngữ hệ Hán - Tạng)3. Thuật ngữ “Hoa duệ” chỉ con cháu đời sau của những người Trung Quốc từ xa xưa đã di cư đến một quốc gia khác và không mang quốc tịch Trung Quốc. Thuật ngữ “người Trung Quốc” ở Việt Nam được hiểu chỉ người mang quốc tịch Trung Quốc chứ không còn chỉ Hoa kiều, người Hoa hay Hoa duệ nữa. Tóm lại khái niệm người Hoa có thể hiểu là chỉ những người có tổ tiên là người Trung Quốc nhưng không mang quốc tịch Trung Quốc và cũng không sinh sống ở Trung Quốc Đại Lục (bao gồm cả Hồng Kông Đài Loan và Macao), ví dụ như người Mỹ gốc Hoa, người Việt gốc Hoa đều có thể gọi chung là người Hoa.
Theo số liệu Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, tổng số người Hoa ở Việt Nam là 823.071 người, tính theo dân số của từng dân tộc ở Việt Nam, dân tộc Hoa là dân tộc lớn thứ tám ở Việt Nam, tập trung chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh và đồng bằng sông Cửu Long. Người Hoa có mặt ở Sài Gòn vào cuối thế kỷ 17. Đó là những lưu dân miền Duyên Hải - Hoa Nam của lục địa Trung Hoa, họ là những nông dân nghèo khổ, binh lính và một số quan lại phong kiến rời bỏ quê hương vượt biển tìm đất mưu sinh.
Lý do rời bỏ quê hương của họ là tình trạng nghèo đói, loạn lạc bất yên, do những cuộc chiến tranh, những cuộc 3 Ủy ban dân tộc, 2016. 14 thanh trừng, bất phục tùng của các quan lại phong kiến, tri thức. Trên đường lênh đênh lưu lạc về phương Nam, một bộ phận lưu dân người Hoa có dừng chân, lập nghiệp nơi mảnh đất miền Nam Việt Nam, trong đó có khu vực Sài Gòn - Gia Định xa xưa. Người Hoa đến Sài Gòn-Gia Định với nhiều đợt di dân, định cư, mà một trong những đợt đông đảo, khá sớm là nhóm người của Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Địch đến Việt Nam vào năm 1679 cùng với 3.000 người, 50 chiếc thuyền xuất phát từ Quảng Đông.
Đoàn người của Dương Ngạn Địch và Trần Thượng Xuyên đến Đà Nẵng xin chính quyền phong kiến Việt Nam cho tỵ nạn. Nhà vua Việt Nam đã cho phép những người Hoa này đến cư trú ở miền Nam Việt Nam. Nhóm của Trần Thượng Xuyên chọn đất Trấn Biên (nay là vùng Biên Hòa) để lập nghiệp. Một bộ phận của nhóm Dương Ngạn Địch đến vùng đất Phiên Chấn (sau là vùng Sài Gòn-Gia Định) tổ chức công cuộc định cư lâu dài, thành lập làng Thanh Hà.
Năm 1778 nhóm cư dân của làng Thanh Hà chuyển từ vùng Biên Hòa về hợp nhất với bộ phận cư dân người Hoa ở Phiên Trấn lúc này đã lập nên làng Minh Hương. Người Hoa vẫn quen gọi Chợ Lớn là "Đê Ngạn" ( đê phòng nước lụt).