Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và khu vực Châu Á Kể từ ca nhiễm HIV/AIDS được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay loài người đã trải qua hơn 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp, tính đến cuối năm 2009 đãcó 33,3 triệu người đang bị nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8%. Riêng năm 2009 ước tính có 2,6 triệu người nhiễm mới HIV/AIDS và 1,8 triệu người tử vong do HIV/AIDS.
So sánh với năm 1999, số người nhiễm mới HIV/AIDS đã giảm 21%. Báo cáo UNAIDS cũng ghi nhận tính đến cuối năm 2009 đã có 33 nước có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận Sahara, Châu Phi. Tuy nhiên hiện vẫn còn 7 nước tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so sánh giữa năm 1999 và năm 2009. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tính đến cuối năm 2012 có khoảng 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên toàn thế giới, trong đó 2,5 triệu người nhiễm mới và 1,7 triệu người đã tử vong trong năm 2011 [63], [70], [72].
Tại châu Á, ước tính có khoảng 4,9 triệu người đang bị nhiễm HIV/AIDS trong năm 2009. Hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại. Không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể. Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm dưới 1% và xét một cách tổng thể, dịch ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại.
Tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS trong số người trưởng thành là 1,3% trong năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn 0,1%. Tại Campuchia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm từ 1,2% trong năm 2001. Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS lại đang gia tăng ở những 4 quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan và Philippin (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính). Về hình thái nhiễm mới HIV/AIDS ở châu Á, năm 2009 có 360.000 người mới nhiễm HIV/AIDS, thấp hơn 20% so với 450.
Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan trong cá c năm từ 2001 đến 2009. Dịch cũng chững lại tại Malaysia và Srilanka trong khoảng thời gian này. Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở Bangladesh và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ở mức thấp. Hình thái lây truyền HIV/AIDS tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới.
Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại những quốc gia rộng lớn như Ấn Độ. Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV/AIDS tại Ấn Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung bơm kim tiêm mới là hình thái lây truyền HIV/AIDS chính tại các bang Đông Bắc của quốc gia này [51]. Theo báo cáo cập nhật tình hình đại dịch HIV/AIDS toàn cầu do UNAIDS và WHO công bố tính đến cuối năm 2014 trên thế giới có 36,9 triệu người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống. Số người tử vong do HIV/AIDS giảm từ 1,7 triệu người năm 2011 xuống còn 1,2 triệu người năm 2014.
Số người nhiễm mới HIV cũng giảm từ 2,5 triệu người trong năm 2011 xuống còn 2 triệu người trong năm 2014. Đến cuối tháng 6 năm 2015, ước tính có khoảng 15,8 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới đã t iếp cận được với thuốc kháng virút, tăng thêm khoảng 2 triệu người so với thời điểm cuối năm 2014 [53]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam Từ trường hợp nhiễm H IV/AIDS đ ượ c p hát h iện đ ầu t iên v ào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh đến hết năm 2015 đ ã có 5 80,3% số xã, phường, t hị t rấn v à 9 8,9% s ố q uận, h uyện b á o cáo có người nhiễm HIV/AIDS [11]. Dịch phát triển nhanh, lan rộng gặp ở nhiều thành p hần xã hội và nghề nghiệp khác nhau, tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao: người nghiện chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm.
Theo chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học khoảng 1/3 trong số những n gườ i n ghiện ch ích m a túy có hành sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 5 0% có h ành v i t ình dục không an toàn với phụ nữ mại dâm. Việc gia t ăng cá c trường h ợp p hụ nữ nhiễm HIV/AIDS mới được báo cá o, ch iếm đ ến 3 2,5% cá c ca nhiễm mới, phản ánh sự lây truyền HIV/AIDS t ừ n am giớ i có hành v i nguy cơ cao sang bạn tình [15]. Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm mới có 6.883 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn HIV/AIDS là 3.484, số bệnh nhân tử vong là 1.260 trường hợp. Trong số đó, nữ chiếm 22%, nam chiếm 78%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 58%, lây truyền qua đường máu chiếm 32%, lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,6%, không rõ chiếm 8%; trong độ tuổi từ 30-39 là 40%; 20-29 là 30%; 9% là trong độ tuổi 40-49; trong độ tuổi trên 50 là 6%; từ 14-19 chiếm 3% và nhóm tuổi từ 0 -13 tuổi là 2% [12].
Theo số liệu dịch HIV/AIDS phát hiện năm 2017 có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2016, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 1,1 %, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm HIV/AIDS tử vong giảm 15%. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,53%, phụ nữ bán dâm là 2,39% và MSM là 7,36%. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm người đồng giới đã tăng từ 5,1% năm 2016 lên 7,36% năm 2017 [12]. Dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, những nơi 6 được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế còn có thể phát hiện thêm nhiều người nhiễm HIV/AIDS.
Dự báo vẫn còn nhiều người nhiễm HIV/AIDS không thuộc nhóm nguy cơ cao do đó rất khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn giai đoạn AIDS [12]. Theo chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học khoảng 1/3 trong số những người nghiện chích ma túy có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 50% có hành vi tình dục không an toàn với p hụ nữ mại dâm. Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV/AIDS mới được báo cáo, chiếm đến 32,5% các ca nhiễm mới, phản ánh sự lây truyền HIV/AIDS từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình [7]. Việc được tiếp cận rộng rãi với thuốc ARV cho bệnh nhân có chỉ định điều trị đã mang lại một hướng đi mới trong công việc phòng ngừa và chữa trị cho bệnh nhân làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân HIV/AIDS.
Việt Nam bắt đầu triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2006 với 365 cơ sở điều trị cấp phát thuốc ARV. Tính đến hết năm 2015 đã có 106.423 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận điều trị và chiếm khoảng 42% số người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng [11]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Đồng Nai Theo luỹ tích tính đến 12/2017, số nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn Đồng Nai là 7754; số chuyển giai đoạn AIDS: 3.754; số tử vong do HIV/AIDS: 2400 trường hợp. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư trên địa bàn toàn tỉnh là 0,24%, tỷ lệ này vẫn ở mức dưới 0,35 so với chỉ tiêu quốc gia.
Theo kết quả đến tháng trong năm 2017 số người nhiễm HIV/AIDS mới được phát hiện và báo cáo là 189 người, 5 người tử vong. Hình thái dịch vẫn trong giai đoạn tập trung, các trường hợp nhiễm HIV/AIDS chủ yếu vẫn tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao: Quan 7 hệ tình dục (50,3%), đường máu (20,6%). Nhiễm HIV/AIDS vẫn chủ yếu ở lứa tuổi từ 25-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao (74,1%) và có xu hướng trẻ hóa dần 15-24 tuổi (20,1%)[38], [44]. Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV) và quá trình điều trị 1.
Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV) Tháng 3 năm 1987, thử nghiệm đầu tiên với Azydothimidin (AZT). Năm 1989 người ta đưa ra các hướng dẫn điều t rị AZT cho những người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lượng tế bào TCD4 của người bệnh [45]. Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít nhất ba loại thuốc. Đến cuối năm 2006, có hơn 30 loại biệt dược đã được đưa vào sử dụng.
Mốc thời gian các thuốc được công bố và sử dụng: Thuốc ngăn cản thụ thể nucleotide sao chép ngược (NRTIs): nhóm thuốc đầu tiên của ARV là thuốc này. Thuốc ngăn cản sao chép ngược không phải nucleotide (N NRTIs): Nevirapine (NVP) năm 1995, Delvirdine (D LV) v à E favirenz (E FV) năm 1997. Thuốc ngăn cản men protease (PIs): nhóm thứ ba khoảng năm 1996, nhóm thuốc nay mới đưa vào sử dụng. Thuốc chống Retrovirus (ARV) 1.
Cơ chế tác dụng của thuốc Thuốc ức chế men sao chép ngược (NRTIs): Ức chế tổng hợp AND của HIV bởi men sao chép ngược, tác dụng ngăn chặn sự phát triển của HIV. Thuốc ức chế men sao chép ngược không nucleoside (NNRTIs): Thuốc hoạt động bằng cách ngăn cản hoạt động của men sao chép ngược. Không giống như các NRTIs, các thuốc NNRTIs không phải là các chất tương tự như các thành phần cấu trúc bình thường của ADN. Thay vào đó, chúng làm rối loạn chức năng men RT ở nhiều vị trí.
Thuốc ức chế men protease (PIs): Thuốc ngăn cản sự hoạt động của một số men protease của HIV. Làm rối loạn khả năng sản sinh ra các hạt virút trưởng thành sau khi virút đã xâm nhiễm tế bào CD4 [6], [5]. Tình hình điều trị các thuốc kháng virus trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới Tính đến tháng 6 năm 2015, có 41% số người lớn nhiễm HIV/AIDS cần được điều trị đã được dùng thuốc kháng virút, tăng gấp 23% so với năm 2010.
Châu Phi vẫn là khu vực có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất, đặc biệt khu vực cận Sahara chiếm đến ba phần tư tổng số người nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu, và đến cuối năm 2014 đã có 10,7 triệu bệnh nhân ở Châu Phi tiếp cận được điều trị ARV, chiếm khoảng 40% tổng số người nhiễm.