Tình Hình Nhiễm HIV/AIDS và Điều Trị ARV Tại Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Nghiên cứu sự tuân thủ một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị thuốc kháng virút ở bệnh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Trung Tâm Y Tế Huyện Long Thành

Chuyên ngành

Y Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Đề Tài Nghiên Cứu

2018 - 2019

86
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam

1.1.1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và khu vực Châu Á

1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam

1.3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Đồng Nai

1.4. Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV) và quá trình điều trị

1.4.1. Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV)

1.4.2. Cơ chế tác dụng của thuốc

1.5. Tình hình điều trị các thuốc kháng virus trên thế giới và tại Việt Nam

1.5.1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới

1.5.2. Quá trình điều trị thuốc ARV Châu Á và Đông Nam Á

Tóm tắt

I. Tổng Quan Tình Hình HIV AIDS Việt Nam Hiện Nay Số Liệu

Đại dịch HIV/AIDS vẫn là một thách thức lớn đối với Việt Nam. Từ ca nhiễm đầu tiên năm 1990, dịch bệnh đã lan rộng khắp cả nước, ảnh hưởng đến nhiều thành phần xã hội. Tuy nhiên, nhờ những nỗ lực phòng chống, tình hình dịch bệnh đã có những chuyển biến tích cực. Số ca nhiễm mới, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS và số ca tử vong đều có xu hướng giảm so với các năm trước. Dù vậy, dịch bệnh vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ, đặc biệt trong các nhóm nguy cơ cao như người nghiện chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới (MSM) và phụ nữ bán dâm. Cần tiếp tục tăng cường các biện pháp can thiệp, giáo dục và nâng cao nhận thức để kiểm soát dịch bệnh hiệu quả hơn. Theo báo cáo, tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm MSM đã tăng từ 5,1% năm 2016 lên 7,36% năm 2017 [12].

1.1. Thống Kê Số Người Nhiễm HIV Tại Việt Nam Gần Đây

Tính đến hết năm 2015, Việt Nam đã ghi nhận trường hợp nhiễm HIV/AIDS ở 80,3% số xã, phường, thị trấn và 98,9% số quận, huyện. Dịch bệnh lây lan nhanh chóng trong nhiều thành phần xã hội, đặc biệt là các nhóm có hành vi nguy cơ cao. Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm mới có 6.883 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn AIDS là 3.484, số bệnh nhân tử vong là 1.260 trường hợp. Số liệu này cho thấy sự cần thiết của việc tiếp tục giám sát và can thiệp để giảm thiểu tác động của dịch bệnh.

1.2. Tình Hình Lây Nhiễm HIV Qua Các Đường Lây Truyền Chính

Đường lây truyền HIV chủ yếu ở Việt Nam là qua đường tình dục (58%) và đường máu (32%). Lây truyền từ mẹ sang con chiếm tỷ lệ nhỏ (2,6%). Điều này cho thấy cần tập trung vào các biện pháp phòng ngừa lây nhiễm qua đường tình dục và đường máu, đặc biệt trong các nhóm nguy cơ cao. Việc tăng cường tiếp cận dịch vụ xét nghiệm và điều trị sớm cũng rất quan trọng để giảm nguy cơ lây truyền HIV trong cộng đồng.

II. Thách Thức Trong Phòng Chống HIV AIDS Vấn Đề Hiện Tại

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu, công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS vẫn còn phổ biến, gây khó khăn cho việc tiếp cận dịch vụ và tuân thủ điều trị. Bên cạnh đó, nguồn lực tài chính cho công tác phòng chống còn hạn chế, đặc biệt khi các nguồn viện trợ quốc tế giảm dần. Sự gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm MSM cũng là một thách thức mới, đòi hỏi các biện pháp can thiệp phù hợp và hiệu quả hơn. Theo nghiên cứu, khoảng 1/3 số người nghiện chích ma túy có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 50% có hành vi tình dục không an toàn với phụ nữ mại dâm [15].

2.1. Kỳ Thị HIV AIDS Rào Cản Tiếp Cận Dịch Vụ và Điều Trị

Kỳ thị và phân biệt đối xử với người nhiễm HIV/AIDS là một trong những rào cản lớn nhất trong công tác phòng chống dịch bệnh. Kỳ thị khiến người nhiễm HIV ngại tiếp cận dịch vụ xét nghiệm, điều trị và chăm sóc, làm tăng nguy cơ lây truyền bệnh trong cộng đồng. Cần tăng cường các hoạt động truyền thông, giáo dục để nâng cao nhận thức và giảm kỳ thị đối với người nhiễm HIV/AIDS.

2.2. Nguồn Lực Phòng Chống HIV AIDS Đảm Bảo Tính Bền Vững

Nguồn lực tài chính cho công tác phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam còn hạn chế, đặc biệt khi các nguồn viện trợ quốc tế giảm dần. Để đảm bảo tính bền vững của chương trình phòng chống, cần tăng cường đầu tư từ ngân sách nhà nước và huy động sự tham gia của các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng. Việc sử dụng hiệu quả các nguồn lực hiện có cũng rất quan trọng.

III. Điều Trị ARV Giải Pháp Hiệu Quả Cho Người Nhiễm HIV

Điều trị ARV (kháng retrovirus) là một trong những tiến bộ lớn nhất trong công tác phòng chống HIV/AIDS. ARV không thể chữa khỏi HIV, nhưng có thể ức chế sự nhân lên của virus, làm chậm quá trình tiến triển thành AIDS và kéo dài tuổi thọ cho người nhiễm HIV. Điều trị ARV cũng giúp giảm nguy cơ lây truyền HIV cho người khác. Việt Nam đã triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2006 và đạt được nhiều thành công. Tính đến hết năm 2015, đã có 106.423 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận điều trị, chiếm khoảng 42% số người nhiễm trong cộng đồng [11].

3.1. ARV Là Gì Cơ Chế Tác Động và Lợi Ích Điều Trị

ARV là thuốc kháng retrovirus, có tác dụng ức chế sự nhân lên của virus HIV trong cơ thể. ARV không thể tiêu diệt hoàn toàn virus, nhưng có thể làm giảm tải lượng virus trong máu, giúp hệ miễn dịch phục hồi và ngăn ngừa các bệnh nhiễm trùng cơ hội. Điều trị ARV giúp người nhiễm HIV sống khỏe mạnh hơn, kéo dài tuổi thọ và giảm nguy cơ lây truyền bệnh cho người khác.

3.2. Tuân Thủ Điều Trị ARV Yếu Tố Quyết Định Thành Công

Tuân thủ điều trị ARV là yếu tố quan trọng nhất quyết định hiệu quả điều trị. Người bệnh cần uống thuốc đúng giờ, đúng liều và liên tục suốt đời để duy trì tải lượng virus ở mức thấp nhất. Việc không tuân thủ điều trị có thể dẫn đến kháng thuốc, làm giảm hiệu quả điều trị và tăng nguy cơ lây truyền bệnh. Cần có các biện pháp hỗ trợ người bệnh tuân thủ điều trị, như tư vấn, nhắc nhở và theo dõi thường xuyên.

IV. Phòng Ngừa HIV AIDS Các Biện Pháp Can Thiệp Hiệu Quả Nhất

Phòng ngừa là chìa khóa để kiểm soát dịch HIV/AIDS. Các biện pháp phòng ngừa hiệu quả bao gồm: sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục, không dùng chung bơm kim tiêm, xét nghiệm HIV định kỳ, điều trị dự phòng trước phơi nhiễm (PrEP) và điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP). Giáo dục và nâng cao nhận thức về HIV/AIDS cũng rất quan trọng để thay đổi hành vi và giảm nguy cơ lây nhiễm. Theo chương trình giám sát, khoảng 1/3 số người nghiện chích ma túy có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 50% có hành vi tình dục không an toàn với phụ nữ mại dâm [7].

4.1. PrEP Dự Phòng Trước Phơi Nhiễm HIV Cơ Hội Mới

PrEP là biện pháp dự phòng HIV bằng cách sử dụng thuốc ARV trước khi phơi nhiễm. PrEP có hiệu quả cao trong việc ngăn ngừa lây nhiễm HIV nếu được sử dụng đúng cách. PrEP được khuyến cáo cho những người có nguy cơ cao lây nhiễm HIV, như người quan hệ tình dục không an toàn với nhiều bạn tình, người tiêm chích ma túy và người có bạn tình nhiễm HIV.

4.2. PEP Phơi Nhiễm HIV Xử Lý Kịp Thời Sau Nguy Cơ

PEP là biện pháp dự phòng HIV bằng cách sử dụng thuốc ARV sau khi phơi nhiễm. PEP cần được bắt đầu càng sớm càng tốt, tốt nhất là trong vòng 72 giờ sau khi phơi nhiễm. PEP có thể giúp ngăn ngừa lây nhiễm HIV nếu được sử dụng đúng cách. PEP được khuyến cáo cho những người có nguy cơ phơi nhiễm HIV, như nhân viên y tế bị kim đâm, người quan hệ tình dục không an toàn với người nhiễm HIV và người bị tấn công tình dục.

V. Hỗ Trợ Người Nhiễm HIV Quyền Lợi và Chính Sách Hiện Hành

Người nhiễm HIV/AIDS có quyền được bảo vệ sức khỏe, được tiếp cận dịch vụ y tế và được hưởng các chính sách hỗ trợ của nhà nước. Các chính sách này bao gồm: bảo hiểm y tế, hỗ trợ chi phí điều trị, hỗ trợ tâm lý và xã hội, và bảo vệ quyền riêng tư. Tuy nhiên, việc thực thi các chính sách này còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Cần tăng cường giám sát và đánh giá hiệu quả của các chính sách để đảm bảo quyền lợi của người nhiễm HIV/AIDS.

5.1. Bảo Hiểm Y Tế Cho Người Nhiễm HIV Tiếp Cận Dịch Vụ

Bảo hiểm y tế là một trong những chính sách quan trọng nhất để hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS. Bảo hiểm y tế giúp người bệnh tiếp cận dịch vụ y tế, bao gồm xét nghiệm, điều trị và chăm sóc. Tuy nhiên, nhiều người nhiễm HIV/AIDS vẫn chưa có bảo hiểm y tế, đặc biệt là những người nghèo và người sống ở vùng sâu, vùng xa. Cần tăng cường tuyên truyền và hỗ trợ người nhiễm HIV/AIDS tham gia bảo hiểm y tế.

5.2. Hỗ Trợ Tâm Lý Cho Người Nhiễm HIV Vượt Qua Khó Khăn

Người nhiễm HIV/AIDS thường phải đối mặt với nhiều khó khăn về tâm lý, như: lo lắng, sợ hãi, mặc cảm và cô đơn. Hỗ trợ tâm lý là rất quan trọng để giúp người bệnh vượt qua những khó khăn này và sống tích cực hơn. Các hình thức hỗ trợ tâm lý bao gồm: tư vấn cá nhân, tư vấn nhóm, hỗ trợ đồng đẳng và các hoạt động xã hội.

VI. Hướng Tới Tương Lai Mục Tiêu 95 95 95 và Kết Thúc Dịch AIDS

Mục tiêu 95-95-95 là một mục tiêu đầy tham vọng của Liên Hợp Quốc nhằm kết thúc dịch AIDS vào năm 2030. Mục tiêu này bao gồm: 95% số người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của mình, 95% số người đã chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV, và 95% số người đang điều trị ARV đạt tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện. Việt Nam đang nỗ lực để đạt được mục tiêu này, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước. Cần tiếp tục tăng cường các biện pháp phòng ngừa, xét nghiệm, điều trị và chăm sóc để đạt được mục tiêu 95-95-95 và kết thúc dịch AIDS.

6.1. Chiến Lược 90 90 90 Tiền Đề Cho Mục Tiêu 95 95 95

Chiến lược 90-90-90 là một chiến lược toàn cầu nhằm kiểm soát dịch HIV/AIDS. Chiến lược này bao gồm: 90% số người nhiễm HIV biết tình trạng nhiễm của mình, 90% số người đã chẩn đoán nhiễm HIV được điều trị ARV, và 90% số người đang điều trị ARV đạt tải lượng virus dưới ngưỡng phát hiện. Chiến lược 90-90-90 là tiền đề quan trọng để đạt được mục tiêu 95-95-95.

6.2. Kết Thúc Dịch AIDS Viễn Cảnh Tươi Sáng Cho Tương Lai

Kết thúc dịch AIDS là một viễn cảnh tươi sáng cho tương lai. Khi dịch AIDS được kiểm soát, sẽ có ít người nhiễm HIV hơn, người nhiễm HIV sẽ sống khỏe mạnh hơn và ít có nguy cơ lây truyền bệnh cho người khác. Để đạt được mục tiêu này, cần có sự chung tay của tất cả mọi người, từ chính phủ, các tổ chức xã hội, doanh nghiệp và cộng đồng.

08/06/2025
Nghiên cứu sự tuân thủ một số yếu tố liên quan đến không tuân thủ điều trị thuốc kháng virút ở bệnh nhân nhiễm hiv và kết quả can thiệp tại trung tâm y tế huyện long thành tỉnh đồng n

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và khu vực Châu Á Kể từ ca nhiễm HIV/AIDS được phát hiện đầu tiên tại Mỹ từ năm 1981, cho đến nay loài người đã trải qua hơn 30 năm đối phó với một đại dịch quy mô lớn, phức tạp, tính đến cuối năm 2009 đãcó 33,3 triệu người đang bị nhiễm HIV/AIDS, tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong nhóm tuổi 15-49 là 0,8%. Riêng năm 2009 ước tính có 2,6 triệu người nhiễm mới HIV/AIDS và 1,8 triệu người tử vong do HIV/AIDS.

So sánh với năm 1999, số người nhiễm mới HIV/AIDS đã giảm 21%. Báo cáo UNAIDS cũng ghi nhận tính đến cuối năm 2009 đã có 33 nước có số ca nhiễm mới giảm, trong đó 22 nước khu vực cận Sahara, Châu Phi. Tuy nhiên hiện vẫn còn 7 nước tỷ lệ nhiễm mới tăng trên 25% khi so sánh giữa năm 1999 và năm 2009. Theo báo cáo của Tổ chức Y tế thế giới, tính đến cuối năm 2012 có khoảng 34 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên toàn thế giới, trong đó 2,5 triệu người nhiễm mới và 1,7 triệu người đã tử vong trong năm 2011 [63], [70], [72].

Tại châu Á, ước tính có khoảng 4,9 triệu người đang bị nhiễm HIV/AIDS trong năm 2009. Hầu hết dịch tại các quốc gia đã có dấu hiệu chững lại. Không có quốc gia nào trong khu vực có dịch toàn thể. Thái Lan là nước duy nhất trong khu vực có tỷ lệ hiện nhiễm dưới 1% và xét một cách tổng thể, dịch ở nước này cũng có dấu hiệu chững lại.

Tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS trong số người trưởng thành là 1,3% trong năm 2009, và tỷ lệ nhiễm mới đã giảm xuống còn 0,1%. Tại Campuchia, tỷ lệ hiện nhiễm ở người trưởng thành giảm xuống còn 0,5% trong năm 2009, giảm từ 1,2% trong năm 2001. Song tỷ lệ hiện nhiễm HIV/AIDS lại đang gia tăng ở những 4 quốc gia vốn có tỷ lệ hiện nhiễm thấp như Bangladesh, Pakistan và Philippin (nơi tiêm chích ma túy là hình thái lây truyền HIV chính). Về hình thái nhiễm mới HIV/AIDS ở châu Á, năm 2009 có 360.000 người mới nhiễm HIV/AIDS, thấp hơn 20% so với 450.

Tỷ lệ nhiễm mới giảm hơn 25% tại các nước Ấn Độ, Nepal và Thái Lan trong cá c năm từ 2001 đến 2009. Dịch cũng chững lại tại Malaysia và Srilanka trong khoảng thời gian này. Tỷ lệ nhiễm mới tăng 25% ở Bangladesh và Philippin từ 2001 đến 2009 dù dịch tại các nước này vẫn ở mức thấp. Hình thái lây truyền HIV/AIDS tại châu Á vẫn chủ yếu tập trung ở nhóm người tiêm chích ma túy, người bán dâm, khách làng chơi và nam quan hệ tình dục đồng giới.

Các hình thái nhiễm mới có thể rất khác nhau tại những quốc gia rộng lớn như Ấn Độ. Khoảng 90% số người nhiễm mới HIV/AIDS tại Ấn Độ được cho là đã lây nhiễm từ việc quan hệ tình dục không an toàn, song việc thường xuyên có 2 hoặc hơn 2 người sử dụng chung bơm kim tiêm mới là hình thái lây truyền HIV/AIDS chính tại các bang Đông Bắc của quốc gia này [51]. Theo báo cáo cập nhật tình hình đại dịch HIV/AIDS toàn cầu do UNAIDS và WHO công bố tính đến cuối năm 2014 trên thế giới có 36,9 triệu người nhiễm HIV/AIDS hiện đang còn sống. Số người tử vong do HIV/AIDS giảm từ 1,7 triệu người năm 2011 xuống còn 1,2 triệu người năm 2014.

Số người nhiễm mới HIV cũng giảm từ 2,5 triệu người trong năm 2011 xuống còn 2 triệu người trong năm 2014. Đến cuối tháng 6 năm 2015, ước tính có khoảng 15,8 triệu người nhiễm HIV/AIDS trên thế giới đã t iếp cận được với thuốc kháng virút, tăng thêm khoảng 2 triệu người so với thời điểm cuối năm 2014 [53]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam Từ trường hợp nhiễm H IV/AIDS đ ượ c p hát h iện đ ầu t iên v ào tháng 12 năm 1990 tại thành phố Hồ Chí Minh đến hết năm 2015 đ ã có 5 80,3% số xã, phường, t hị t rấn v à 9 8,9% s ố q uận, h uyện b á o cáo có người nhiễm HIV/AIDS [11]. Dịch phát triển nhanh, lan rộng gặp ở nhiều thành p hần xã hội và nghề nghiệp khác nhau, tập trung chủ yếu ở ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS cao: người nghiện chích ma túy, nam quan hệ tình dục đồng giới và phụ nữ bán dâm.

Theo chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học khoảng 1/3 trong số những n gườ i n ghiện ch ích m a túy có hành sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 5 0% có h ành v i t ình dục không an toàn với phụ nữ mại dâm. Việc gia t ăng cá c trường h ợp p hụ nữ nhiễm HIV/AIDS mới được báo cá o, ch iếm đ ến 3 2,5% cá c ca nhiễm mới, phản ánh sự lây truyền HIV/AIDS t ừ n am giớ i có hành v i nguy cơ cao sang bạn tình [15]. Trong 9 tháng đầu năm 2017, cả nước xét nghiệm mới có 6.883 trường hợp nhiễm HIV/AIDS, số bệnh nhân chuyển sang giai đoạn HIV/AIDS là 3.484, số bệnh nhân tử vong là 1.260 trường hợp. Trong số đó, nữ chiếm 22%, nam chiếm 78%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 58%, lây truyền qua đường máu chiếm 32%, lây truyền từ mẹ sang con chiếm 2,6%, không rõ chiếm 8%; trong độ tuổi từ 30-39 là 40%; 20-29 là 30%; 9% là trong độ tuổi 40-49; trong độ tuổi trên 50 là 6%; từ 14-19 chiếm 3% và nhóm tuổi từ 0 -13 tuổi là 2% [12].

Theo số liệu dịch HIV/AIDS phát hiện năm 2017 có xu hướng giảm so với cùng kỳ năm 2016, số trường hợp nhiễm HIV phát hiện mới giảm 1,1 %, số bệnh nhân AIDS giảm 39% và người nhiễm HIV/AIDS tử vong giảm 15%. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,53%, phụ nữ bán dâm là 2,39% và MSM là 7,36%. Tỷ lệ nhiễm HIV/AIDS trong nhóm người đồng giới đã tăng từ 5,1% năm 2016 lên 7,36% năm 2017 [12]. Dịch HIV/AIDS vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ trong cộng đồng, những nơi 6 được đầu tư mạnh của các tổ chức quốc tế còn có thể phát hiện thêm nhiều người nhiễm HIV/AIDS.

Dự báo vẫn còn nhiều người nhiễm HIV/AIDS không thuộc nhóm nguy cơ cao do đó rất khó phát hiện sớm, các trường hợp này thường chẩn đoán muộn giai đoạn AIDS [12]. Theo chương trình giám sát kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học khoảng 1/3 trong số những người nghiện chích ma túy có hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm và trên 50% có hành vi tình dục không an toàn với p hụ nữ mại dâm. Việc gia tăng các trường hợp phụ nữ nhiễm HIV/AIDS mới được báo cáo, chiếm đến 32,5% các ca nhiễm mới, phản ánh sự lây truyền HIV/AIDS từ nam giới có hành vi nguy cơ cao sang bạn tình [7]. Việc được tiếp cận rộng rãi với thuốc ARV cho bệnh nhân có chỉ định điều trị đã mang lại một hướng đi mới trong công việc phòng ngừa và chữa trị cho bệnh nhân làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV/AIDS và cải thiện chất lượng cuộc sống của những bệnh nhân HIV/AIDS.

Việt Nam bắt đầu triển khai mở rộng điều trị ARV từ năm 2006 với 365 cơ sở điều trị cấp phát thuốc ARV. Tính đến hết năm 2015 đã có 106.423 bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS được tiếp cận điều trị và chiếm khoảng 42% số người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng [11]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Đồng Nai Theo luỹ tích tính đến 12/2017, số nhiễm HIV/AIDS trên địa bàn Đồng Nai là 7754; số chuyển giai đoạn AIDS: 3.754; số tử vong do HIV/AIDS: 2400 trường hợp. Tỷ lệ người nhiễm HIV/AIDS trong cộng đồng dân cư trên địa bàn toàn tỉnh là 0,24%, tỷ lệ này vẫn ở mức dưới 0,35 so với chỉ tiêu quốc gia.

Theo kết quả đến tháng trong năm 2017 số người nhiễm HIV/AIDS mới được phát hiện và báo cáo là 189 người, 5 người tử vong. Hình thái dịch vẫn trong giai đoạn tập trung, các trường hợp nhiễm HIV/AIDS chủ yếu vẫn tập trung trong nhóm có hành vi nguy cơ cao: Quan 7 hệ tình dục (50,3%), đường máu (20,6%). Nhiễm HIV/AIDS vẫn chủ yếu ở lứa tuổi từ 25-49 tuổi chiếm tỷ lệ cao (74,1%) và có xu hướng trẻ hóa dần 15-24 tuổi (20,1%)[38], [44]. Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV) và quá trình điều trị 1.

Lịch sử phát triển thuốc kháng Retrovirus (ARV) Tháng 3 năm 1987, thử nghiệm đầu tiên với Azydothimidin (AZT). Năm 1989 người ta đưa ra các hướng dẫn điều t rị AZT cho những người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS trên cơ sở số lượng tế bào TCD4 của người bệnh [45]. Đến năm 1996, thế giới bắt đầu sử dụng phác đồ điều trị phối hợp ít nhất ba loại thuốc. Đến cuối năm 2006, có hơn 30 loại biệt dược đã được đưa vào sử dụng.

Mốc thời gian các thuốc được công bố và sử dụng: Thuốc ngăn cản thụ thể nucleotide sao chép ngược (NRTIs): nhóm thuốc đầu tiên của ARV là thuốc này. Thuốc ngăn cản sao chép ngược không phải nucleotide (N NRTIs): Nevirapine (NVP) năm 1995, Delvirdine (D LV) v à E favirenz (E FV) năm 1997. Thuốc ngăn cản men protease (PIs): nhóm thứ ba khoảng năm 1996, nhóm thuốc nay mới đưa vào sử dụng. Thuốc chống Retrovirus (ARV) 1.

Cơ chế tác dụng của thuốc Thuốc ức chế men sao chép ngược (NRTIs): Ức chế tổng hợp AND của HIV bởi men sao chép ngược, tác dụng ngăn chặn sự phát triển của HIV. Thuốc ức chế men sao chép ngược không nucleoside (NNRTIs): Thuốc hoạt động bằng cách ngăn cản hoạt động của men sao chép ngược. Không giống như các NRTIs, các thuốc NNRTIs không phải là các chất tương tự như các thành phần cấu trúc bình thường của ADN. Thay vào đó, chúng làm rối loạn chức năng men RT ở nhiều vị trí.

Thuốc ức chế men protease (PIs): Thuốc ngăn cản sự hoạt động của một số men protease của HIV. Làm rối loạn khả năng sản sinh ra các hạt virút trưởng thành sau khi virút đã xâm nhiễm tế bào CD4 [6], [5]. Tình hình điều trị các thuốc kháng virus trên thế giới và tại Việt Nam 1. Tình hình điều trị ARV trên thế giới Tính đến tháng 6 năm 2015, có 41% số người lớn nhiễm HIV/AIDS cần được điều trị đã được dùng thuốc kháng virút, tăng gấp 23% so với năm 2010.

Châu Phi vẫn là khu vực có số người nhiễm HIV/AIDS cao nhất, đặc biệt khu vực cận Sahara chiếm đến ba phần tư tổng số người nhiễm HIV/AIDS trên toàn cầu, và đến cuối năm 2014 đã có 10,7 triệu bệnh nhân ở Châu Phi tiếp cận được điều trị ARV, chiếm khoảng 40% tổng số người nhiễm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Tình Hình Nhiễm HIV/AIDS và Điều Trị ARV Tại Việt Nam cung cấp cái nhìn tổng quan về tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam, cùng với các biện pháp điều trị bằng thuốc kháng virus (ARV). Tài liệu nêu bật những thách thức mà quốc gia đang phải đối mặt trong việc kiểm soát dịch bệnh, cũng như những tiến bộ trong việc điều trị và chăm sóc cho người nhiễm HIV. Đặc biệt, nó nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao nhận thức cộng đồng và các chương trình can thiệp nhằm giảm thiểu sự lây lan của virus.

Để mở rộng kiến thức của bạn về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận án tiến sĩ y tế công cộng nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ và biện pháp phòng chống sốt rét cho người dân ngủ rẫy ở hai huyện của tỉnh khánh hòa và gia lai 2014 2017. Tài liệu này sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp phòng chống dịch bệnh trong bối cảnh y tế công cộng tại Việt Nam. Mỗi tài liệu đều là cơ hội để bạn khám phá sâu hơn về các chủ đề liên quan, từ đó nâng cao kiến thức và nhận thức của mình về sức khỏe cộng đồng.