Đặt vấn đề Từ lâu, chăn nuôi đã là một nghề quen thuộc của ngƣời dân Việt Nam nói chung và ngƣời dân Thái Nguyên nói riêng. Chăn nuôi với nhiều phƣơng thức phong phú đa dạng đã góp phần giải quyết công ăn việc làm, nâng cao thu nhập cho ngƣời dân, trong đó chăn nuôi lợn đóng vai trò hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi, vì lợn là loài gia súc đƣợc nuôi nhiều và cung cấp lƣợng thực phẩm lớn nhất cho con ngƣời. Trong gần một thập kỷ qua, chăn nuôi lợn ở nƣớc ta đã có những bƣớc phát triển rất quan trọng với tốc độ tăng hàng năm tƣơng đối cao. Theo số liệu của Tổng cục Thống kê Việt Nam (2010) [76], Cục Thống kê Thái Nguyên (2007) [6], Sở Nông nghiệp và PTNT Thái Nguyên (2010) [43], trong những năm gần đây, số lƣợng đàn lợn trong cả nƣớc nói chung và tỉnh Thái Nguyên nói riêng có sự tăng lên đáng kể hàng năm.
Theo Chu Minh Khôi (2009) [74]: “Chăn nuôi lợn đƣợc coi là một trong những ngành chăn nuôi chủ lực trong sản xuất nông nghiệp”. Với vai trò cung cấp lƣợng thực phẩm lớn nhất cho con ngƣời, thịt lợn luôn chiếm tỷ lệ cao từ 76 - 77% tổng sản lƣợng thịt các loại trong cả nƣớc, Nguyễn Thanh Sơn và Phạm Văn Duy (2010) [75] cho biết: Theo ƣớc tính của Cục chăn nuôi, mỗi tháng cả nƣớc ta sản xuất và tiêu thụ khoảng 290 - 300 nghìn tấn thịt lợn hơi. Năm 2009 tổng sản lƣợng thịt hơi xuất chuồng trong cả nƣớc là 2,93 triệu tấn. Dự báo, tổng sản lƣợng này trong 6 tháng đầu năm 2010 khoảng 1,77 triệu tấn, tăng khoảng 3,5% so với cùng kỳ năm 2009.
Nhận thấy vai trò quan trọng của ngành chăn nuôi lợn đối với con ngƣời và xã hội, Bộ Nông nghiệp và PTNT (2008) [1], đã định hƣớng phát 2 triển đàn lợn ở Việt Nam nhƣ sau: “Phấn đấu đến năm 2015 tổng đàn lợn của Việt Nam đạt 32,9 triệu con và đến năm 2020 đạt 34,7 triệu con. Tổng sản lƣợng thịt hơi xuất chuồng đến năm 2015 đạt 3,9 triệu tấn và con số này sẽ tăng lên 4,8 triệu tấn năm 2020”. Mặc dù đƣợc coi là một trong những ngành chủ lực của sản xuất nông nghiệp nhƣng chăn nuôi lợn vẫn gặp không ít khó khăn, những khó khăn mà ngành chăn nuôi lợn gặp phải đó chính là việc quản lý chất lƣợng thức ăn, chất lƣợng thuốc thú y lƣu thông trên thị trƣờng cũng nhƣ quản lý con giống. Những hạn chế này ảnh hƣởng không nhỏ đến phát triển chăn nuôi lợn.Ngoài những khó khăn kể trên, sản xuất chăn nuôi lợn ở nƣớc ta hiện nay còn chịu ảnh hƣởng rất lớn từ thị trƣờng quốc tế nhất là khi nƣớc ta chính thức ra nhập WTO (Theo Vũ Đình Tôn, 2009 [59]).
Tuy nhiên, dịch bệnh vẫn là nỗi lo ngại lớn nhất của ngƣời chăn nuôi vì bệnh tật làm cho con vật giảm khả năng sinh trƣởng, phát triển, giảm sức đề kháng và làm giảm hiệu quả kinh tế. Đứng trƣớc vấn đề dịch bệnh, các trại chăn nuôi và nông hộ đã áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào công tác phòng và trị bệnh cho đàn vật nuôi. Tuy nhiên bệnh giun sán gây ra hầu nhƣ chƣa đƣợc quan tâm đúng mức. Việt Nam là một nƣớc nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới nóng ẩm nên có khu hệ ký sinh trùng phong phú và đa dạng, gây nhiều bệnh ký sinh trùng cho đàn gia súc, gia cầm.
Trong các bệnh ký sinh trùng ở lợn, bệnh giun đũa lợn là một bệnh khá phổ biến, gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, tỷ lệ mắc bệnh của đàn có thể lên tới 80 - 90% (Bùi Quý Huy, 2006 [12]), giảm năng suất thịt đến 30% (Phan Địch Lân và cs, 2005 [32], Phạm Sỹ Lăng và Lê Thị Tài, 2006 [28]). Mặt khác, sự truyền lây giun đũa lợn sang ngƣời đã đƣợc nhiều tác giả đề cập đến từ lâu, song, trong mấy năm trở lại đây ngƣời nhiễm ấu trùng giun đũa lợn thì khá phổ biến, gây lên hội chứng Loeffler và các phản ứng tăng dị ứng của cơ thể với các triệu chứng đặc trƣng: thở khò khè, 3 ho, sốt, tăng bạch cầu ƣa eosin trong máu. Đây cũng là một vấn đề đáng quan tâm của bệnh ký sinh trùng truyền lây sang ngƣời nói chung và bệnh giun đũa lợn nói riêng trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của việc khống chế dịch bệnh nói chung và bệnh ký sinh trùng nói riêng để đảm bảo sức khỏe cho đàn lợn, nâng cao năng suất chăn nuôi lợn ở tỉnh Thái Nguyên và bảo vệ sức khoẻ cộng đồng, em thực hiện đề tài: "Tình hình nhiễm giun đũa ở lợn (Ascariosis) tại một số địa phƣơng thuô ̣c tỉnh Thái Nguyên và áp dụng biện pháp điều trị”.
Mục tiêu nghiên cứu - Xác định tình hình nhiễm giun đũa lợn ở một số huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên - Nghiên cứu triệu chứng lâm sàng, biện pháp phòng và trị bệnh giun đũa lợn. - Xác định hiệu lực tẩy của thuốc: Dextomax, Hanmectin - 25, Levamisol 1. Mục đích nghiên cứu Làm sáng tỏ và bổ sung thêm những thông tin khoa học về bệnh giun đũa ở lợn, từ đó có cơ sở khoa học xây dựng quy trình phòng trị bệnh giun đũa cho lợn có hiệu quả cao, góp phần thúc đẩy ngành chăn nuôi lợn của tỉnh Thái Nguyên phát triển. Ý nghĩa của đề tài 1.
Ý nghĩa khoa học Kết quả nghiên cứu của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ của bệnh giun đũa lợn tại một huyện thuộc tỉnh Thái Nguyên, về đặc điểm bệnh lý, lâm sàng của bệnh và biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả. Ý nghĩa thực tiễn Đề ra những biện pháp phòng và điều trị bệnh giun đũa lợn có hiệu quả, hạn chế sự nhiễm giun đũa cho lợn, từ đó hạn chế những thiệt hại do bệnh gây ra. 4 PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Cơ sở khoa học của đề tài 2.
Đặc điểm sinh học của giun đũa Ascaris suum 2. Vị trí của giun đũa Ascaris suum trong hệ thống phân loại động vật Giun đũa lợn là những giun tròn thuộc họ Ascarididae (bộ phụ Ascaridata), loài Ascaris suum. Chúng ký sinh và gây bệnh giun đũa ở lợn. Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [61], giun đũa lợn Ascaris suum có vị trí trong hệ thống phân loại động vật nhƣ sau: Lớp Nematoda Rudolphi,1808 Phân lớp Secernenea Linstow, 1905 Bộ Spirurida Chitwood,1933 Phân bộ Ascaridata Skrjabin et Schulz, 1940 Họ Ascarididae Baird, 1853 Phân họ Ascaridoidea Railliet et Henry, 1915 Giống Ascaris Linnaeus, 1758 Loài Ascaris suum Goeze, 1782 2.
Đặc điểm hình thái, kích thước, cấu tạo giun đũa lợn Ascaris suum * Đặc điểm hình thái, kích thước và cấu tạo giun đũa lợn Ascaris suum Giun đũa là loài giun tròn lớn nhất ký sinh ở ruột non của lợn. Nghiên cứu về hình thái giun đũa lợn, Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [21] cho biết: Giun đũa lợn có màu trắng sữa, hình ống, hai đầu hơi nhọn, đầu có ba môi bao quanh (một môi ở phía lƣng, hai môi ở phía bụng) trên rìa môi có một hàm răng cƣa rất rõ. Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [19], Phan Địch Lân và cs (2005) [31], cấu tạo của răng cƣa giữa hai loài giun đũa lợn và giun đũa ngƣời có sự khác nhau, hàng răng cƣa của giun đũa ngƣời không rõ bằng răng cƣa của giun đũa lợn. 5 Giun đực dài 12 - 25 cm, đƣờng kính 3 mm.
Giun cái dài 30 - 35 cm, đƣờng kính 5 - 6 mm. Phân biệt giun đực và giun cái: giun đực nhỏ, đuôi cong về phía bụng, đuôi giun cái thì thẳng. Giun đực có 2 gai giao hợp bằng nhau, dài khoảng 1,2 - 2 mm và không có túi giao hợp (Trịnh Văn Thịnh và cs, 1982 [55]). Theo Trịnh Văn Thịnh (1966) [51], Đào Trọng Đạt và cs (1996) [9] giun đũa lợn có hình thái, kích thƣớc nhƣ sau: Giun đũa thân dài, hình trụ, hai đầu thót mầu trắng sữa, thân cứng và đàn hồi.
Chóp đầu mang ba môi, bờ môi có răng cƣa rất nhỏ, môi bọc lấy miệng, một môi ở phía lƣng, đáy môi có hai gai thịt; hai môi kia ở giữa phía cạnh và bụng và chỉ có một gai thịt. Con đực dài 15 - 20 cm, đƣờng kính từ 3,2 - 4,4 mm. Đoạn đuôi cong về phía bụng mang hai gai giao hợp ngắn, bằng nhau, hơi cong. Trên mặt bụng ở mỗi bên có từ 69 - 75 gai thịt, có 7 gai thịt sau hậu môn, những gai thịt xếp trên một hoặc hai hàng, một gai thịt lẻ ở trƣớc hậu môn.
Con cái dài từ 20 - 30 cm, đƣờng kính từ 5 - 6 mm, đoạn sau thẳng. Đuôi mang hậu môn về phía bụng (ở gần chóp đuôi). Hậu môn có hình dạng một cái khe ngang, bọc hai môi gồ lên. Âm hộ có hình dáng một lỗ nhỏ hình bầu dục, gần về phía bụng khoảng một phần ba đoạn trƣớc thân, ngang một vùng có một cái vòng thắt lại một chút (gọi là thắt lƣng).
Giun đũa có cấu tạo giống các loại giun tròn khác: Tiết diện ngang tròn. Dƣới vỏ cutin dày là lớp hạ bì cùng với hệ cơ tơ hợp thành bao biểu mô cơ. Chúng chỉ có một lớp cơ dọc nên chỉ có cách vận chuyển duy nhất là cong gập cơ thể. Xoang cơ thể là xoang nguyên sinh khá rộng và chứa đầy dịch (Trần Tố và cs, 2002 [58]).
* Đặc điểm hình thái, cấu tạo trứng giun đũa Ascaris suum Trứng giun đũa lợn có hình bầu dục hơi ngắn, kích thƣớc 0,056 - 0,087 0,046 - 0,067 mm, vỏ rất dầy, có 4 lớp vỏ, lớp ngoài cùng là màng protit, nhấp nhô làn sóng, do tác dụng dịch mật nên màng có mầu vàng cánh dán (Nguyễn Thị Kim Lan và cs, 1999 [21]). 6 Đào Trọng Đạt và cs (1995) [8] cho biết: Trứng giun đũa có hình bầu dục hoặc oval, vỏ dầy, bề mặt nhăn nheo, mầu vàng, trong có nhân mầu vàng thẫm. Kích thƣớc 45 - 85 x 35 - 55 m. Vỏ trứng giun đũa có tác dụng phòng vệ cao trong vòng đời phát triển của giun.
Vỏ trứng đƣợc chia thành 3 lớp cơ bản: một lớp noãn hoàng bên ngoài, một lớp kitin ở giữa và một lớp lipid ở trong. Lớp lipid bên trong có tác giả gọi là màng noãn hoàng và lớp noãn hoàng thực sự là màng bên ngoài cùng. Ở Ascaris còn có một lớp uterine ở bên ngoài lắng trên trứng, lớp này cũng đƣợc gọi là lớp protein, nó có một phức hợp protein acid - mucopolysaccharide. Lớp noãn hoàng bên ngoài của Ascaris dầy khoảng 0,05m và là lipo - protein.
Lớp kitin ở giữa chứa chất kitin, thành phần khác nhau tuỳ loài.