Chương 1. Giới thiệu nghiên cứu, đưa ra các ly do, vấn đề, mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu. Tổng quan nghiên cứu và cơ sở lý thuyết, tông hợp các nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới và ở Việt Nam, từ đó đưa ra cơ sở lý thuyết về các vẫn đề nghiên cứu Chương 3. Phương pháp nghiên cứu, chi tiết hóa cách thức triển khai nghiên cứu và các phương pháp được tác giả luận văn sử dụng trong tiến hành nghiên cứu Chương 4.
Kết quả nghiên cứu, trình bày toàn bộ những kết quả mà tác giả luận văn đã có được sau quá trình nghiên cứu 12 Chương 5. Thảo luận và khuyến nghị, đưa ra những ý kién đóng góp mang tính xây dựng dành cho các đơn vi tô chức sự kiện, lễ hội truyền thống dựa trên cơ sở phân tích các kết quả nghiên cứu. Giới thiệu địa bàn nghiên cứu - lễ hội Yên Tử, Quảng Ninh 1.1 Lễ hội Yên Tử— nguồn gốc và lịch sử phát triển 1.1 Đôi nét về Thiên tông và Thiên phái Trúc Lâm Thiền tông là một ngành Phật giáo xem đức Phật Thích-ca Mau-ni là vi khai tổ, khác với hầu hết các tông phái khác đều có một vị tổ sư khai sáng và vận dụng một phần giáo lý nào đó trong kinh Phật để sáng lập thành tông phái của mình, Thiền tông không xem trọng sự truyền thừa qua giáo nghĩa, kinh văn, mà chỉ chấp nhận “di tâm truyền tâm”, nghĩa là phải có sự truyền trao trực tiếp giữa bậc thầy và đệ tử. Tổ sư thứ 28 của Thiền Tông Ấn Độ là ngài Bồ Đề Đạt Ma sang Trung Hoa và phát triển dòng Thiền này ở Quảng Đông, phía nam Trung Quốc từ khoảng những năm 520, trở thành vị tổ thứ nhất của Thiền tông Trung Hoa.
Đến đời vị tổ thứ sáu là Huệ Năng, Thiền tông được chia thành hai phái Bắc Tông và Nam Tông. Bắc tông do ngài Thần Tú dẫn dắt và Nam tông do ngài Huệ Năng dạy dỗ. Thiền tông vào Việt Nam từ khá sớm với ảnh hưởng trước tiên của Thiền tông Ấn Độ được truyền từ thời Bắc Thuộc, trước cả Bồ Đề Đạt Ma với các Thiền sư như Mâu Tử và Khương Hội. Thiền tông Trung Quốc được truyền vào Việt Nam từ khoảng thế kỉ thứ chín, do đệ tử của Lục tổ Huệ Năng truyền thừa.
Đến thời Trần thuộc thế kỉ 13,vua Trần Nhân Tông tham van Thiền với Tuệ Trung Thượng Sĩđược đốn ngộ Phat tính, sau đó nhường ngôi vua cho con và xuất gia, hoằng pháp với hiệu là Trúc Lâm Đầu Đà, sáng lập Thiền phái Trúc Lâm tại Yên Tử mang đậm bản sắc của dân tộc Việt Nam. Thiền phái Trúc Lâm là sự kết hợp và kế thừa tư tưởng của 13 ba thiền phái là Tì-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường. Ba vị tổ quan trọng nhất của Thiền phái này là sơ tổ Phật Hoàng Trần Nhân Tông, nhị thổ Pháp Loa và tam tổ Huyền Quang. Vào những thế kỷ tiếp theo, Thiền tông Việt Nam đã có những bước phát triển mạnh mẽ.2 Sơ lược về khu di tích — thắng cảnh và lễ hội Yên Tử Tiếp nối những bước phát triển từ thời Trần, sang đến thời Lê, Nguyễn, Yên Tử trở thành trung tâm của Phật giáo Việt Nam và được vua quan các triều đại quan tâm tôn tạo sửa chữa.
Do vậy Yên Tử là kết tinh, sự hội tụ của nền văn hoá dân tộc với dáng dấp kiến trúc, hoa văn trang trí và các mảng chạm khắc mang đậm dấu ấn của các thời đại. Vẻ đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoà với nét cổ kính tram mặc của hệ thống am, tháp cùng với đường tùng, thông, đại, trúc, mai được trồng dọc đường lên đỉnh núi, nằm trọn vẹn trong địa hạt của rừng Quốc gia Yên Tử, là điểm thu hút đối với du khách thập phương. Lễ hội chính của Yên Tử diễn ra từ ngày 10 tháng giêng âm lịch và kéo dài trong 3 tháng mùa xuân, thu hút hàng chục vạn du khách thập phương về tray hội. Lễ hội là dịp để người dân địa phương và du khách trong nước tôn vinh công đức của Phật hoàng Trần Nhân Tông đã khai sáng ra Thiền phái Trúc Lâm và góp phần làm hưng thịnh Phật giáo Việt Nam.
Với những người theo đạo Phật, Yên Tử được coi là danh sơn, là nơi dat Phật, là chốn Tổ, cõi Thiêng và là điểm hành hương hàng năm. Ngày 30/9/1974, khu di tích và danh thắng Yên Tử được Nhà nước xếp hạng là một trong tám mươi di tích đặc biệt quan trọng của Việt Nam.2 Tiềm năng phát triển du lịch của lễ hội Yên Tử Lễ hội Yên Tử được diễn ra tại Yên Tử, một điểm di tích nam trong Quan thé di tích và danh thắng Yên Tử, được cấu thành từ 4 cụm di tích lịch sử quốc gia đặc biệt gồm Khu di tích lịch sử và danh thăng Yên Tử (thành phố Uông Bí, Quảng Ninh), Khu di tích lịch sử nhà Trần (thị xã Đông Triều, Quảng Ninh), Khu di tích danh thắng Tây Yên Tử (Bắc Giang) và Quan thé Côn Son- Kiếp Bạc-Thanh Mai (Hải Dương). 14 Yên Tử là một điểm đến có sự kết hợp hài hòa giữa cảnh quan thiên nhiên với các công trình kiến trúc, nghệ thuật có giá trị đặc biệt của quốc gia, bao gồm Chùa Bí Thượng, chùa Suối Tắm, chùa Cầm Thực, chùa Lân, chùa Giải Oan, vườn tháp Hòn Ngọc, khu tháp Tổ, chùa Hoa Yên, chùa Một Mái, chùa Bao Sai, chùa Vân Tiêu, chùa Đồng (Thiên Trúc Tự). Toàn bộ các di tích trên đều năm gon trong Rừng Quốc gia Yên Tử.
Bên cạnh đó, Yên Tử còn là một di tích mang giá trị lịch sử to lớn, vì là nơi hình thành, ra đời và phát triển của Thiền phái Trúc Lâm và là Trung tâm Phật giáo Việt Nam. Theo đó là một hệ thong cac ban kinh văn quý giá như Thiền tâm thiết chuỷ ngữ luc, Dai Hương Hải an thi tập, Tăng gia Toái sự, Thạch thất Mỹ Ngữ, Truyền Đăng Lục, Thượng Sĩ hành trang. Đây là những di sản văn hoá phi vật thé gia tri đối với su phát triển của lịch sử dân tộc. Thêm vào đó, Yên Tử còn là một trong những linh sơn của đất nước, nơi bảo tồn được rất nhiều loài động thực vật quý hiếm mà không một vùng núi nào có được, đặc biệt là các loài cây quý như tùng, trúc, mai va các loại cây thuốc nam quý hiếm.
Vẻ đẹp của Yên Tử là sự kỳ vĩ của núi non hoa với nét cô kính, tram mặc của chùa tháp, là sự thơ mộng của suối nước, trời mây chen trong cây cỏ hoa lá và chim muông, là sự phong phú của thảm thực vật đa dạng và những loại cây dược liệu có giá trị. Chính vì vậy mà từ xa xưa Yên Tử được xếp là một trong 72 phúc địa của Việt Nam. Với những giá trị đặc biệt quan trọng của Yên Tử, sau khi khảo sát khoanh vùng di tích, Nhà nước đã có Quyết định số 15/VH-QĐ ngày 13/3/1974 công nhận Khu di tích lich sử - danh thang Yên Tử là di tích quốc gia. Sau đó, ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh Yên Tử là di tích quốc gia đặc biệt.
Ở góc độ Phật giáo, Đại hội Đại biểu Phat giáo toàn quốc lần thứ III diễn ra tại Hà Nội vào đầu tháng 11/1992 công nhận Yên Tử là Trung tâm Phật giáo của Việt Nam. Năm 2021, Bộ Văn hóa, Thẻ thao va Du lịch chủ trì, phối hợp với Ủy ban Quốc gia UNESCO (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc) Việt Nam gửi Báo cáo 15 tom tắt đề cử “Quan thê di tích và danh thắng Yên Tử” (thuộc địa ban các tinh Quảng Ninh, Bắc Giang và Hải Dương) tới Trung tâm Di sản Thế giới UNESCO dé đề nghị xem xét, đưa vào Danh sách dự kiến lập Hồ sơ di sản thế giới. Tiến trình lễ hội Yên Tử Trước ngày khai mạc lễ hội, tại chùa Trình - Yên Từ, Hội Phật giáo tỉnh sẽ tổ chức nghi lễ mở cửa rừng Yên Tử. Các vị sư thầy cùng với nhân dân địa phương sẽ thực hiện dâng hương, tụng kinh niệm phật, tế cáo đất trời, kinh phật tô và các vị sơn than dé cầu mong một mùa lễ hội diễn ra bình an, tốt đẹp.
Đây được xem là một nghi lễ mở màn, có lời xin phép thần linh dé được bat đầu lễ hội. e Lễ Khai hội Lễ khai hội bắt đầu diễn ra vào sáng mùng 10 tháng Giêng (Âm lịch) tại Trung tâm Văn hóa Trúc Lâm Yên Tử với những phần lễ trang nghiêm, mang ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Tại đây, các vị chư tăng hòa thượng sẽ tiễn hành thực hiện nghi lễ cầu quốc thái dân an. Tiếp đến, các đại biểu sẽ lần lượt thực hiện đóng dau thiêng trên ấn Yên Tử.
Dé tạo thêm không khí đặc sắc cho lễ hội, trong ngày khai hội sẽ có phần biểu dién văn nghệ ở quy mô lớn với sự tham gia của nhiều nghệ sĩ nổi tiếng đan xen với các phần thỉnh chuông, gióng trống, chúc phúc đầu năm. e Hoạt động trong lễ hội Sau khi kết thúc nghi lễ khai hội, du khách sẽ được tham quan khu Trung tâm lễ hội, thượng sơn lễ Phật, làng hành hương hoặc tham gia các trò chơi dân gian ấn tượng được thiết kế trong khu vực lễ hội như: ném còn, kéo co, chọi gà, giải cờ tướng kỳ vương Yên Tử hoặc tự do thưởng thức các màn trình diễn độc đáo như: Văn nghệ truyền thống tại khu vực đình làng hành hương Yên Tử, võ thuật cổ truyền, nghệ thuật múa rồng. Cùng thời điểm, Ban tô chức cũng tổ chức các đoàn hành hương lễ Phật, lần lượt di chuyền lên đỉnh cao nhất của núi Yên Tử - nơi tọa lạc ngôi chùa Đồng cổ kính. Hành trình lên đỉnh chùa Đồng, du khách được ghé thăm và chiêm bái hơn 11 ngôi chùa và hàng chục am, tháp.
Đặc biệt, trong số đó là ngọn tháp cao 3 tầng 16 được xây dựng bằng đá có niên đại cô nhất vào năm 1758 và suối Giải Oan tại chùa Giải Oan - Noi gan liền với những câu chuyện cung nữ thời trước tự tram mình xuống dòng nước như một hình thức tuần táng để tỏ lòng thành với vua Trần Nhân Tông. Bên cạnh lựa chọn di chuyên theo đường bộ, du khách đến với Yên Tử có thé lựa chọn trải nghiệm hệ thống cáp treo dé rút ngăn thời gian và tiết kiệm sức.