Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN TÍNH CHÍNH ĐÁNG CHÍNH TRỊ TRONG TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH 1. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Nghiên cứu về tính chính đáng chính trị Tính chính đáng chính trị là một phạm trù cơ bản của Chính trị học, là một trong những đặc trưng cơ bản của quyền lực chính trị, được trực tiếp bàn đến nhiều nhất trong các công trình nghiên cứu của các học giả phương Tây từ thời Cận đại đến nay. Tuy nhiên, những nội hàm và ngoại diên của khái niệm này thì trước đó đã được đề cập và luận giải trong những tác phẩm nghiên cứu của các tác giả khác nhau ở cả phương Tây và phương Đông, từ thời Cổ đại, Trung đại và thời kỳ Khai sáng.
Chẳng hạn, khi bàn về vấn đề làm thế nào để ổn định được trật tự xã hội, giải tỏa những bất đồng, mâu thuẫn, xung đột trong xã hội và thiết lập một chế độ cai trị được sự thừa nhận, ủng hộ rộng rãi của người dân hay bàn về việc xây dựng hình ảnh một chủ thể cầm quyền tốt đẹp; bàn về phương thức, nghệ thuật cầm quyền hay cách thức tổ chức và thực thi quyền lực đảm bảo hiệu lực, hiệu quả có thể đáp ứng tốt những đòi hỏi của thực tiễn chính trị và thỏa mãn được ý chí, nguyện vọng của người dân, được nhân dân tin tưởng, yêu mến, ủng hộ, suy tôn,… thì câu trả lời có thể được tìm thấy trong cách luận giải của các nhà tư tưởng nổi tiếng như Khổng Tử, Lão Tử, Hàn Phi Tử,…Tôn Trung Sơn, v. ở phương Đông; cũng như của những nhà tư tưởng Xenophon, Plato, Aristotle,…Thomas Hobbes, John Locke, Montesqiueu, Rousseau, v. ở phương Tây, và trong lý luận của các nhà kinh điển như C. Xét ở phương diện nhất định, tư tưởng chính trị của các nhà tư tưởng lớn ấy dù ở phương Đông hay phương Tây, dù ở các thời đại khác nhau, những bối cảnh lịch sử cụ thể khác nhau, song đều đã đề cập đến những mầm mống nội dung của vấn đề tính chính đáng nói chung và tính chính đáng chính trị nói riêng.
Từ thời Cận hiện đại đến nay, có rất nhiều nhà tư tưởng, nhiều học giả khác nhau trực tiếp bàn về tính chính đáng chính trị từ nhiều phương diện khác nhau, đáng chú ý hơn cả là những công trình tiêu biểu như sau: Các tác phẩm chính như: The Protestant Ethic and Spirit of Capitalism 8 (Đạo đức Tin Lành và Tinh thần của Chủ nghĩa tư bản) [249], Politics As a Vocation (Chính trị là một nghề) [250], The Theory of the Social and Economic Organization (Lý thuyết về Tổ chức Kinh tế và Xã hội) [251], Economy and Society (Kinh tế và Xã hội) [253] của Max Weber (1864-1920), vốn được coi là những công trình mang tính khởi đầu đề cập và luận giải một cách căn bản về tính chính đáng chính trị nói chung, tính chính đáng của nhà nước, tính chính đáng của nhà cầm quyền nói riêng, gắn với thực tiễn bối cảnh chính trị xã hội phương Tây thế kỷ XX. Qua các công trình này, Weber chỉ ra rằng niềm tin vào tính hợp pháp của một hệ thống chính trị vượt khỏi những triết lý và chúng trực tiếp góp phần vào sự ổn định và thẩm quyền của hệ thống nhà nước. Tất cả các nhà cầm quyền đều có cách biện luận riêng cho tính ưu việt của họ, sự biện luận đó thường được chấp thuận một cách rộng rãi trừ phi trong thời kỳ khủng hoảng nó có thể bị nghi ngờ. Weber chỉ ra ba yếu tố hợp thức hóa (mà ông gọi là “ba loại thuần phác” - “three pure types”) [xem 253, pp.341-342] được sử dụng để biện minh cho quyền cai trị của những nhà cầm quyền bao gồm: (1) Quyền lực truyền thống (Traditional authority) dựa trên một hệ thống trong đó quyền lực là hợp pháp vì nó hiển nhiên tồn tại.
Những người cầm quyền thường thích nó vì họ nghiễm nhiên được thừa hưởng nó. Giới quan chức bao gồm những thuộc hạ của người cầm quyền (trong chế độ phụ quyền) và cả các đồng minh trung thành của người cầm quyền đó như chư hầu hoặc lãnh chúa (trong chế độ phong kiến). Đặc quyền của họ thường tương tự như đặc quyền của người cai trị phía trên họ, chỉ khác nhau về quy mô, phạm vi và họ cũng thường được lựa chọn dựa trên quyền thừa kế; (2) Quyền lực hấp dẫn (Charismatic authority), người có quyền lãnh đạo nhờ sức cuốn hút bởi các phẩm chất cá nhân đặc biệt, khiến những người khác tin tưởng và ủng hộ một cách tự nguyện; (3) Quyền lực pháp lý (Legal authority): quyền lực chính đáng nhờ luật pháp, luật định và những quy trình được cho là thẩm quyền hợp pháp, hợp lý. Weber cũng chỉ ra rằng giữa 3 loại quyền lực chính đáng này có thể thay đổi theo thời gian, theo bối cảnh và theo chủ thể cầm quyền.
Với tác phẩm “Prison Notebooks” [217], Antonio Gramsci (1891-1937) phân tích rằng trong xã hội chính trị, quyền lực được tạo ra bởi “tính tiền phong” (hegemony) của hệ tư tưởng, không đơn giản dựa trên sự cưỡng bức, mà còn 9 dựa trên sự đồng thuận tự nguyện. Quyền lực và sự thống trị của giai cấp còn dựa trên “nền sản xuất tư tưởng” (production of ideas), tức nền sản xuất giá trị tinh thần, cho dù nền sản xuất tư tưởng được dùng để phục vụ nền sản xuất vật chất (production of things). Nhà nước tư sản không chỉ thuần túy sử dụng vũ lực và cưỡng ép thô bạo hoặc bằng chuyên chính tư sản thông qua bạo lực nhà nước hay sự ép buộc kinh tế thông qua chiếm giữ, duy trì tư liệu sản xuất, mà còn thông qua việc tạo ra sự đồng thuận (manufacturers of consent) [xem 217, p. Để làm được việc đó, giai cấp cầm quyền sử dụng vị trí tiền phong của mình (được tạo ra bằng cách truyền bá hệ tư tưởng) làm cho nó ăn sâu vào quần chúng.
Gramsci coi gia đình là một thiết chế có vai trò trung tâm trong việc hình thành quan điểm chính trị cá nhân, là công cụ quan trọng trong việc truyền tải và nuôi dưỡng văn hóa, truyền thống; nói cách khác, gia đình là công cụ quan trọng trong việc tạo lập tính tiền phong vì nó ảnh hưởng đến quan điểm, hệ giá trị mặc định của quần chúng nhân dân, của đa số trong xã hội, từ đó ảnh hưởng đến sự đồng thuận tự nguyện thường trực vốn rất cần thiết cho sự ổn định và tồn tại của chế độ chính trị. Tương tự như vậy, Gramsci còn cho rằng, các thể chế khác như nhà thờ, trường đại học, các câu lạc bộ, phong trào,…vốn được coi là các thành phần của “xã hội công dân” (civil society), cũng là nơi sản xuất, nuôi dưỡng, truyền bá tư tưởng và văn hóa, có vai trò quan trọng trong việc tái tạo các yếu tố cần thiết bảo đảm sự tiền phong - tức tính chính đáng của giai cấp cầm quyền (dù là tư sản hay vô sản), đồng thời cần thiết cho sự tồn tại và ổn định của cả hệ thống. Gramsci cho rằng sự thống trị của giai cấp tư sản sở dĩ tồn tại được là nhờ hai nền tảng có tính độc lập tương đối và quan trọng như nhau là: (1) Sự chiếm ưu thế về kinh tế và (2) Sự chiếm ưu thế về tri thức và hệ giá trị đạo đức, thông qua thiết lập tính tiền phong về hệ tư tưởng và các giá trị văn hóa trong xã hội. Cuốn sách Legitimacy and Politics: A Contribution to the Study of Political Right and Political Responsbility (Tính chính đáng và Chính trị: Một sự đóng góp đối với nghiên cứ về quyền chính trị và trách nhiệm chính trị) [206] của Jean-Marc Coicaud đã đề cập luận giải nhiều nội dung về tính chính đáng chính trị.
Trong đó, tập trung vào các vấn đề chủ yếu như: (1) Tính chính đáng chính trị là gì? (What is political legitimacy?) - đưa ra định nghĩa về tính 10 chính đáng với tư cách là quyền cai trị và nêu lên ý nghĩa chính trị của tính chính đáng; (2) Những tranh luận xung quanh vấn đề tính chính đáng chính trị (Controversies around political legitimacy) - nêu lên hiện thực chính trị và tính chính đáng, khái luận lý thuyết về tính chính đáng và khoa học về chính trị; (3) Tính hiện đại, tính duy lý của khoa học xã hội và tính chính đáng (Modernity, rationality of the social sciences, and legitimacy) - luận giải về chủ nghĩa khoa học và những phân tích về các hiện tượng chính trị - xã hội; khái quát về khoa học, lý luận và chính trị học trong tác phẩm thời kỳ Khai sáng; luận về Chủ nghĩa cấp tiến hiện đại, các khoa học xã hội và tính chính đáng; (4) Khoa học xã hội, tính lịch sử và sự thật (Social sciences, historicity, and truth); (5) Nghiên cứu chính trị học, mối quan hệ với lịch sử và sự tuyên bố phán quyết (Study of politics, relation to history and de jure judgement); (6) Kinh nghiệm cộng đồng, sự biến động của các khả năng và tính chính đáng chính trị (Community experience, dynamics of possibilities, and political legitimacy). Coicaud cho rằng, vấn đề tính chính đáng vốn là vấn đề trọng tâm của Chính trị học, thì không phải là của riêng ngành nào. Triết học và các khoa học chính trị, luật, xã hội học và nhân học chính trị cũng đều coi đó là một đối tượng nghiên cứu đặc biệt. Mặc dù vậy, có một cơ sở chung để hiểu rằng quan niệm về tính chính đáng liên quan đến đầu tiên và quan trọng nhất là quyền cai trị.
Ý niệm về tính chính đáng trước hết được xác định trong mối liên hệ với các khái niệm về sự đồng thuận, một mạng lưới các chuẩn mực - xung quanh đó tạo nên khế ước giữa các cá nhân trong xã hội - và luật pháp, được coi là một yếu tố bảo vệ và ban hành sự thỏa thuận về tính chính đáng [xem 206, p. Tác giả cho rằng trong bất cứ trường hợp nào, không nhất thiết phải chứng kiến những biến động căn bản, vẫn có thể phát hiện ra những dấu hiệu về tính chính đáng chính trị hoặc sự phi chính đáng thông qua cách thức và mức độ tham gia của các cá nhân vào đời sống xã hội [xem 206, p. Tác giả định nghĩa: Tính chính đáng tức là quyền cai trị [xem 206, p. Theo đó, người ta cố gắng đưa ra một giải pháp cho một vấn đề chính trị nền tảng mà nó bao gồm việc biện minh đồng thời cho quyền lực chính trị và sự tuân theo.
Để chứng minh quyền lực và sự tuân theo một cách đồng thời thì vấn đề đầu tiên là liên quan đến câu hỏi tính chính đáng.