Nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm chứa Mn trong dung môi hữu cơ tại Đại học Quốc gia Hà Nội

Nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm từ chứa Mn trong dung môi hữu cơ, mở ra hướng đi mới cho ứng dụng vật liệu trong công nghệ.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Quang học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2011

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PEROVSKITE VÀ CÁC HẠT NANO TRONG DUNG DỊCH

1.1. Tổng quan về các vật liệu perovskite

1.1.1. Cấu trúc vật liệu perovskite ABO3

1.2. Tổng quan về vật liệu CaMnO3 pha Fe

1.3. Tổng quan về vật liệu (CaPr)MnO3 pha Ru

2.1. Giới thiệu chung về chất lỏng nano

2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.3. Một số ứng dụng của các hạt nano trong dung dịch

2. CHƯƠNG II: CÁC PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM

2.1. Các phương pháp chế tạo vật liệu

2.1.1. Phương pháp phản ứng pha rắn thông thường

2.1.2. Phương pháp lắng đọng hóa học CSD

2.1.3. Phương pháp hoá siêu âm

2.2. Quá trình chế tạo mẫu

2.2.1. Hệ Ca(FeMn)O3 chế tạo bằng phương pháp gốm

2.2.2. Hệ (CaPr)(MnRu)O3 chế tạo bằng phương pháp gốm

2.2.3. Hệ Hạt nano Ca(FeMn)O3 và (CaPr)MnO3 pha Ru khuếch tán trong dung dịch

2.3. Các phương pháp nghiên cứu vật liệu

2.3.1. Phương pháp phổ hấp thụ UV-VIS

2.3.2. Phương pháp phổ huỳnh quang

2.3.3. Hệ đo huỳnh quang FL3-22-Jobin-Yvon-Spex

2.3.4. Kính hiển vi điện tử quét (SEM)

2.3.5. Phương pháp từ kế mẫu rung VSM

3. CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Cấu trúc tinh thể của các mẫu khối

3.2. Kết quả đo tính chất từ của các mẫu khối

3.3. Phổ hấp thụ hồng ngoại của các mẫu dung dịch nano

3.4. Kết quả đo hình thái hạt SEM

3.5. Phổ phát xạ huỳnh quang của các mẫu dung dịch nano

3.6. Đo phát xạ huỳnh quang trong từ trường

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

KẾT LUẬN

Tóm tắt

I. Tổng quan về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn trong dung môi hữu cơ

Tính chất quang của hạt gốm chứa mangan (Mn) trong dung môi hữu cơ là một lĩnh vực nghiên cứu đang thu hút sự chú ý của nhiều nhà khoa học. Hạt gốm chứa Mn có khả năng phát xạ huỳnh quang và hấp thụ ánh sáng, điều này mở ra nhiều ứng dụng trong công nghệ quang học và y học. Các nghiên cứu cho thấy rằng tính chất quang của các hạt gốm này phụ thuộc vào cấu trúc tinh thể, kích thước hạt và môi trường xung quanh. Việc hiểu rõ về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn sẽ giúp tối ưu hóa các ứng dụng trong thực tiễn.

1.1. Tính chất quang học của hạt gốm chứa mangan

Hạt gốm chứa mangan có nhiều tính chất quang học đặc biệt. Chúng có khả năng hấp thụ và phát xạ ánh sáng trong các bước sóng khác nhau. Sự hiện diện của ion Mn trong cấu trúc gốm tạo ra các mức năng lượng cho phép sự chuyển tiếp điện tử, dẫn đến hiện tượng phát xạ huỳnh quang. Nghiên cứu cho thấy rằng các hạt gốm nano có tính chất quang học vượt trội so với các hạt gốm thông thường.

1.2. Ảnh hưởng của dung môi hữu cơ đến tính chất quang

Dung môi hữu cơ có thể ảnh hưởng đáng kể đến tính chất quang của hạt gốm chứa Mn. Sự tương tác giữa hạt gốm và dung môi có thể làm thay đổi cấu trúc điện tử, từ đó ảnh hưởng đến khả năng hấp thụ và phát xạ ánh sáng. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc lựa chọn dung môi phù hợp có thể tối ưu hóa hiệu suất quang học của hạt gốm.

II. Vấn đề và thách thức trong nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải vượt qua. Một trong những vấn đề chính là sự đồng nhất trong quá trình chế tạo hạt gốm. Sự không đồng nhất có thể dẫn đến sự biến đổi trong tính chất quang, làm giảm hiệu suất của hạt gốm trong các ứng dụng thực tiễn. Ngoài ra, việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất quang cũng cần được thực hiện một cách hệ thống.

2.1. Khó khăn trong quá trình chế tạo hạt gốm

Quá trình chế tạo hạt gốm chứa Mn thường gặp nhiều khó khăn, bao gồm việc kiểm soát kích thước hạt và cấu trúc tinh thể. Sự không đồng nhất trong quá trình chế tạo có thể dẫn đến sự biến đổi trong tính chất quang, làm giảm hiệu suất của hạt gốm. Việc tối ưu hóa quy trình chế tạo là rất cần thiết để đạt được các hạt gốm có tính chất quang tốt.

2.2. Thiếu hụt dữ liệu nghiên cứu

Hiện tại, có rất ít tài liệu nghiên cứu về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn trong dung môi hữu cơ. Điều này gây khó khăn cho việc hiểu rõ các cơ chế ảnh hưởng đến tính chất quang của hạt gốm. Cần có thêm nhiều nghiên cứu để làm rõ các yếu tố ảnh hưởng đến tính chất quang của hạt gốm chứa Mn.

III. Phương pháp nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm chứa Mn

Để nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm chứa Mn, nhiều phương pháp khác nhau đã được áp dụng. Các phương pháp này bao gồm phổ hấp thụ UV-Vis, phổ huỳnh quang và kính hiển vi điện tử quét (SEM). Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm và hạn chế riêng, và việc kết hợp nhiều phương pháp sẽ giúp cung cấp cái nhìn toàn diện hơn về tính chất quang của hạt gốm.

3.1. Phương pháp phổ hấp thụ UV Vis

Phương pháp phổ hấp thụ UV-Vis được sử dụng để xác định khả năng hấp thụ ánh sáng của hạt gốm chứa Mn. Phương pháp này cho phép xác định các đỉnh hấp thụ và vùng cấm của hạt gốm, từ đó giúp hiểu rõ hơn về cấu trúc điện tử của chúng.

3.2. Phương pháp phổ huỳnh quang

Phương pháp phổ huỳnh quang được sử dụng để nghiên cứu khả năng phát xạ của hạt gốm chứa Mn. Phương pháp này giúp xác định cường độ phát xạ và các đặc tính quang học khác của hạt gốm, từ đó cung cấp thông tin quan trọng về tính chất quang của chúng.

IV. Ứng dụng thực tiễn của hạt gốm chứa Mn trong quang học

Hạt gốm chứa Mn có nhiều ứng dụng trong lĩnh vực quang học, bao gồm cảm biến quang, thiết bị phát xạ laser và các ứng dụng trong y học. Tính chất quang của hạt gốm cho phép chúng được sử dụng trong các thiết bị quang học hiện đại, mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu và phát triển công nghệ.

4.1. Ứng dụng trong cảm biến quang

Hạt gốm chứa Mn có thể được sử dụng trong các cảm biến quang nhờ vào khả năng phát xạ huỳnh quang của chúng. Các cảm biến này có thể được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau, từ môi trường đến y tế.

4.2. Ứng dụng trong thiết bị phát xạ laser

Với tính chất quang đặc biệt, hạt gốm chứa Mn có thể được sử dụng trong các thiết bị phát xạ laser. Điều này mở ra nhiều cơ hội mới trong nghiên cứu và phát triển công nghệ laser, đặc biệt là trong lĩnh vực y học và công nghệ thông tin.

V. Kết luận và triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Nghiên cứu về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn trong dung môi hữu cơ đang mở ra nhiều cơ hội mới trong lĩnh vực quang học. Mặc dù còn nhiều thách thức cần phải vượt qua, nhưng với sự phát triển của công nghệ và phương pháp nghiên cứu, hy vọng rằng sẽ có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực này trong tương lai. Việc hiểu rõ hơn về tính chất quang của hạt gốm sẽ giúp tối ưu hóa các ứng dụng trong thực tiễn.

5.1. Triển vọng nghiên cứu trong tương lai

Trong tương lai, cần có nhiều nghiên cứu hơn về tính chất quang của hạt gốm chứa Mn. Việc phát triển các phương pháp chế tạo mới và tối ưu hóa quy trình sẽ giúp nâng cao hiệu suất quang học của hạt gốm. Ngoài ra, việc nghiên cứu các ứng dụng thực tiễn cũng cần được chú trọng để khai thác tối đa tiềm năng của hạt gốm chứa Mn.

5.2. Tầm quan trọng của nghiên cứu tính chất quang

Nghiên cứu tính chất quang của hạt gốm chứa Mn không chỉ có ý nghĩa lý thuyết mà còn có giá trị thực tiễn cao. Các ứng dụng trong quang học, y học và công nghệ thông tin sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển của ngành công nghiệp quang học trong tương lai.

16/08/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU PEROVSKITE VÀ CÁC HẠT NANO TRONG DUNG DỊCH 1.1 Tổng quan về các vật liệu perovskite.1 Cấu trúc vật liệu perovskite ABO3. Vật liệu perovskite có công thức hóa học chung là ABO3, trong đó A là kim loại đất hiếm hoặc kiềm thổ và B là kim loại chuyển tiếp. Các perovskite lý tưởng có cấu trúc lập phương, thuộc nhóm không gian Pm3m. Trong ô cơ sở, các cation A2+ chiếm vị trí đỉnh (các cation vị trí A, (xyz) = (1/2, 1/2, 1/2)) và các cation B4+ ở tâm (các cation vị trí B, (xyz) = (0,0,0)); các anion O2- giữ vị trí ở tâm các mặt của hình lập phương (tức là ba vị trí (0, 1/2, 1/2), (1/2, 0, 1/2) và Hình 1.1: Cấu trúc Perovskite lí tưởng (1/2,1/2,0))[11].

Do cách sắp xếp như vậy, xung quanh mỗi cation A có 12 anion oxy phối vị tạo thành đa diện AO12 với khoảng cách trung bình A-O vào cỡ 0. Đặc trưng quan trọng trong cấu trúc lập phương của các perovskite đó là sự tồn tại khối bát diện BO6 hình thành bởi một cation B và 6 anion oxy nội tiếp trong ô mạng cơ sở (khoảng cách trung bình B-O cỡ 0. Cấu trúc perovskite lý tưởng có thể coi như các bát diện BO6 sắp xếp cạnh nhau (Hình 1. Trong hệ trục O(xyz) gắn với tâm B của bát diện, góc liên kết B-O-B bằng 180o và độ dài liên kết B-O theo các trục là bằng nhau.

Từ cấu trúc lập phương lí tưởng này có thể thấy một số hệ quả sau [3]: 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com a) Bán kính ion của A phải lớn hơn của B b) Các ion A, B phải tồn tại trong một trạng thái oxy hóa, để duy trì một kích thước ion nhất định. Nhìn chung thì hóa trị tại B thường lớn hơn tại A, và hóa trị tại A thường ít thay đổi (2+). 2 d2 c) Độ lớn tương tác sắt từ (super-exchange) Mn-O-Mn   chủ yếu cos  phụ thuộc khoảng cách (do góc α(Mn-O-Mn) là 180o). eg orbitals x 3z t2g orbitals zx a, Trong năm quỹ đạo d có ba quỹ b, Các quỹ đạo d của các kim loại chuyển đạo t2g và hai quỹ đạo eg tiếp gồm năm kiểu sắp xếp tương ứng.2: Sơ đồ tách mức năng lượng của ion Mn3+ trong tinh thể perovskite.

d) Cấu trúc điện tử là không suy biến do ảnh hưởng của trường bát diện Oh, do vậy dao động quang học (IR, Raman) chủ yếu là các dao động đẳng hướng, đối xứng, với số lượng vạch được phép tối thiểu (1). Sự tách mức t2g và eg không xảy ra trong cấu trúc lập phương.2 cho thấy quỹ đạo của các điện tử lớp 3d của Mn được tách thành hai mức năng lượng: Mức năng lượng cao eg suy biến bội 2 gồm các quỹ đạo dz2, dx2-y2 và mức năng lượng thấp t2g suy biến bội 3 gồm các quỹ đạo dxy, dyz và dxz. Sự suy biến quỹ đạo của các điện tử làm cho cấu trúc bát diện MnO6 bị biến dạng dẫn 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đến sự méo mạng tổng thể, để loại bỏ suy biến đó và làm giảm năng lượng của hệ. Các méo mạng thường gặp trong cấu trúc perovskite gồm có méo mạng Jahn – Teller và méo mạng kiểu GdFeO3 (hình 1.3: Méo mạng Jahn-Teller kiểu I (a) và méo mạng Jahn-Teller kiểu II (b) 1.2 Tổng quan về vật liệu CaMnO3 pha Fe.

Trong CaMnO3, các nguyên tố thường được pha tạp bao gồm đất hiếm (La, Pr, Ru, Nd,…) hoặc kim loại chuyển tiếp như Co, Ni, Cr… Có hai khả năng pha tạp chính là pha tạp vị trí A (La, Pr, Ru,.) hoặc pha tạp vị trí B (Co, Ni, Fe,. Nguyên tố sắt có có điện tích hạt nhân, khối lượng nguyên tử và bán kính ion rất gần với Mn. Sắt có hai số oxi hóa là Fe2+ và Fe3+. Tuy nhiên trong thực tế vẫn tồn tại một số ít các perovskite chứa ion Fe4+.

Cấu hình điện tử của Fe4+ là t2g3eg1, khác xa với cấu hình của ion cùng hóa trị Mn4+ (t2g3) [6]. Sự thay thế của Fe cho Mn trong CaMnO3 đã tạo ra các tính chất từ lý thú [6].4a chỉ ra phổ hấp thụ của các mẫu gốm CaFexMn1-xO3 đo tại nhiệt độ phòng. Từ phổ hấp thụ của các mẫu có thể quan sát thấy có 4 đỉnh hấp thụ tương ứng năng lượng cỡ khoảng 6. Riêng đối với các mẫu pha tạp, xuất hiện thêm một đỉnh hấp thụ rõ nét tương ứng năng lượng khoảng 1.

Sự xuất hiện đỉnh 1.2eV là điều rất đặc trưng cho sự pha tạp Fe, mặc dù sự pha tạp nhỏ không thể làm thay đổi cấu trúc vùng quá nhiều. Ngay cả khi không pha tạp thì mật độ trạng thái trên mức Fermi của CaMnO3 vẫn tồn tại đỉnh 1.2eV ứng với các điện tử có spin thấp. Sự xuất hiện của đỉnh hấp thụ quang học tại 1.2eV cho thấy quá 10 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trình kích thích bắt đầu có sự tham gia của các điện tử có spin cao. Các điện tử này chủ yếu bắt nguồn từ các ion Fe.

Các ước đoán độ rộng vùng cấm cũng chỉ ra khi nồng độ pha tạp tăng lên, độ rộng vùng cấm có xu hướng giảm đi [7] , Ngoài ra còn thấy có sự dịch các đỉnh hấp thụ về phía đỏ khi nồng độ pha tạp tăng lên. Điều này có thể được giải thích là do khi nồng độ Fe tăng lên làm cho mật độ điện tử 3d trong tinh thể tăng lên. Sự dịch chuyển đỏ có thể là dấu hiệu của quá trình các điện tử 3d này được bơm lên vùng dẫn.4: Phổ hấp thụ hồng ngoại của CaFexMn1-xO3 tại nhiệt độ phòng 1.3 Tổng quan về vật liệu (CaPr)MnO3 pha Ru.4b chỉ ra giản đồ pha từ tính có tính đối xứng của perovskite CaxPr1-xMnO3. Hiệu ứng CMR xảy ra không những trong các mẫu có hàm lượng Ca thấp và có trật tự sắt từ mà cả ở trong các mẫu có hàm lượng Ca cao (x~0.9) với trật tự phản sắt từ.

Đây là một điểm khá đặc biệt mà các perovskite khác không có. 11 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.4b: Giản đồ pha từ của CaxPr1-xMnO3 Trong vùng nồng độ 0.9 vật liệu có hiệu ứng trật tự điện tích đặc trưng và cấu trúc từ là phản sắt từ điện môi [8]. Khi pha tạp Pr vào vị trí A có tính chất nhiệt điện tốt nhất trong hệ CaxPr1- xMnO3 và tiếp tục thay thế một nguyên tố đa hoá trị là Ruthenium vào vị trí Mn thì đã làm thay đổi mạnh tính chất từ nhiệt của vật liệu. Ruthenium trong mạng tinh thể có thể có hoá trị từ +3 đến +8 và bán kính ion không sai khác ion Mn nhiều lắm (xung quanh 0,53 đến 0,56 A0 ).Vì vậy Ruthenium có thể dễ dàng thay thế Mn trong hốc bát diện BO6 và từ đó tỷ lệ Mn2+/Mn4+ sẽ thay đổi mạnh và đóng góp nhiều điện tử dẫn cho vật liệu, dẫn đến điện trở suất sẽ giảm mạnh và tính chất điện và từ sẽ thay đổi theo.2 Tổng quan về các hạt nano trong dung dịch.1 Giới thiệu chung về chất lỏng nano.

Chất lỏng nano là hướng nghiên cứu mới trên thế giới trong những năm vừa qua. Chất lỏng nano được hiểu là môi trường đồng nhất của các hạt nano phát tán trong dung dịch. Người ta cũng đã phát hiện được chất lỏng nano bao gồm các hạt nano kết tụ dạng lỏng mà không có dung môi [8]. Sự nở rộ các nghiên cứu trong 12 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com lĩnh vực này trong thời gian vừa qua bị chi phối mạnh bởi những hứa hẹn ứng dụng rất đa dạng của chất lỏng nano trong công nghệ hiện đại.

Các chất lỏng nano có tính chất vật lý riêng của chúng, khác biệt với tính chất của các hạt nano. Trước hết phải nói đến tính chất quang. Tương tác bề mặt giữa hạt nano và dung môi làm xuất hiện các hiệu ứng liên quan đến plasmon bề mặt, tương tác electron-dipol, dipol-dipol, sự thay đổi trạng thái phân cực, tensor phân cực tinh tế, sự xuất hiện hay dập tắt các giam cầm phonon vv. Mặc dù các hiệu ứng là những vấn đề được quan tâm và đôi khi được quan sát thấy chỉ bằng mắt thường nhưng cho đến nay có rất ít nghiên cứu sâu đề cập đến các vấn đề này.

Hiện nay sự quan tâm chủ yếu vẫn chỉ tập trung vào ứng dụng chất lỏng nano trong các thiết bị quang học lỏng, cụ thể là các phát xạ quang học mới do biến đổi cấu trúc vùng năng lượng gây ra, kể cả phát xạ laser trong các chất lỏng nano chứa bán dẫn từ pha loãng. Sự xuất hiện các mode quang học mới là tiền đề cho việc ứng dụng chất lỏng nano như chất chỉ thị màu, bio-sensor trong y-sinh học. Các công cụ lý thuyết modelling như phiếm hàm mật độ (DFT) sẽ được sử dụng để tiên đoán, lý giải sự thay đổi cấu trúc vùng năng lượng. Việc khuếch tán các hạt nano trong dung dịch cũng làm thay đổi đáng kể đến tính chất cơ-lý và nhiệt động học của chất lỏng nano.

Trước tiên nó làm thay đổi chiết suất, nhiệt độ sôi, nhiệt dung riêng, độ dẫn nhiệt và độ nhớt. Hầu hết các kết quả nghiên cứu gần đây về chất lỏng nano đều tập trung vào lĩnh vực này, tuy rằng các khai thác chỉ mới dừng lại ở mức độ sơ khai trên một số hệ hạt nano kim loại và oxid kim loại như Cu, Fe, CuO, Al2O3, Fe3O4 và Mn1-xZnxFe2O4. Hầu hết các chất lỏng nano đều làm tăng đáng kể độ dẫn nhiệt, tuy nhiên mức độ tăng phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác nhau như kích thước hạt, nồng độ hạt, dung môi, chất đệm, chất hoạt hoá bề mặt. Để có thể ứng dụng trong thực tế, các chất lỏng nano cần đáp ứng các đòi hỏi về độ nhớt, độ độc hại, mầu sắc, từ tính, độ dẫn điện và nhất là tính ăn mòn của chúng đối với các vật liệu khác nhau.

Chất lỏng nano thường có độc tố tương đối mạnh đối với các vi sinh vật. Trong quá khứ người ta cũng đã biết đến tác dụng kháng khuẩn của Ag và CuO hay 13 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ZnO, TiO2. Các hợp chất này cũng vẫn thường xuyên được dùng trong dược phẩm và mỹ phẩm (thuốc chống chàm cho trẻ sơ sinh, thuốc mỡ kháng khuẩn bôi ngoài, kem chống nắng. Hiện nay vì nhu cầu sử dụng các chất lỏng nano trong y học điều trị gia tăng, nên việc khảo sát một cách có hệ thống sự tương thích sinh học của nhiều hệ chất lỏng cũng trở nên cấp thiết hơn.

Tuy vậy các nghiên cứu trong lĩnh vực này mới đang bắt đầu và vẫn còn rất hạn chế. Nhìn chung độc tố của chất lỏng nano phụ thuộc vào khá nhiều yếu tố trong đó có dung môi, thành phần vật liệu nano, kích thước hạt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ