phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục tài liệu tham khảo; Nội dung của Luận văn được chia làm ba chương, cụ thể: Chƣơng I: Một số vấn đề lý luận về BHTG và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tham gia hoạt động BHTG Chƣơng II: Thực trạng pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động BHTG ở Việt Nam Chƣơng III: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả trong việc thực thi các quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hoạt động BHTG ở Việt Nam 9 z CHƢƠNG I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BHTG VÀ QUYỀN, NGHĨA VỤ CỦA CHỦ THỂ THAM GIA HOẠT ĐỘNG BHTG 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của BHTG 1. Khái niệm Theo định nghĩa trong Luật BHTG Hoa Kỳ năm 1933 thì “Tiền gửi được hiểu là số dư tiền hoặc giá trị tương đương chưa được thanh toán đã được nhận hoặc giữ bởi một ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm trong hoạt động kinh doanh thông thường và từ đó nó cấp hoặc có nghĩa vụ cấp tín dụng, dù là có điều kiện hay không có điều kiện cho một tài khoản thương mại, séc, tiết kiệm, không kỳ hạn, hoặc được chứng minh bằng giấy chứng nhận tiền gửi, chứng nhận tiết kiệm, chứng nhận đầu tư, chứng nhận nợ, hoặc những giấy tờ có tên tương tự, hoặc séc hay hối phiếu rút ra từ tài khoản tiền gửi và được chứng nhận bởi ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm, hoặc thư tín dụng hoặc séc du lịch mà ngân hàng hoặc hiệp hội tiết kiệm có nghĩa vụ đầu tiên” [3]. Theo định nghĩa trên, ta có thể hiểu tiền gửi không chỉ là các khoản tiền nhàn rỗi của công chúng gửi tại các tổ chức tín dụng nhằm hưởng lãi mà còn có thể thực hiện những mục đích khác như đầu tư, tiết kiệm hay một khoản ứng trước để đặt cọc, ký quỹ cho một giao dịch mua bán.
Luật các Tổ chức tín dụng Việt Nam 1997 lần đầu tiên cũng quy định “tiền gửi là số tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không được hưởng lãi và phải được trả cho người gửi tiền”. Theo Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam 2010, Khoản 3 Điều 4 quy định: nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết 10 z kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, tín phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận. Vậy khái niệm tiền gửi có thể hiểu là khoản tiền của khách hàng gửi tại các tổ chức tín dụng để phù hợp với mục đích và yêu cầu của các người gửi tiền cũng như tổ chức tín dụng và tuân thủ những hình thức mà pháp luật quy định.
Với tư cách là trung gian về nguồn vốn, các tổ chức tín dụng chịu nhiều tác động từ các yếu tố luôn luôn biến động và cũng luôn chịu tác động từ nền kinh tế thế giới như các cơ chế, chính sách kinh tế; các điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội. Mặt khác, trong thực tiễn hoạt động kinh doanh của các ngân hàng cũng cho thấy, trong chừng mực nhất định, do hạn chế về kiến thức chuyên môn cũng như khả năng phân tích, nắm bắt thông tin của người gửi tiền và sự mạo hiểm, quá chú trọng đến lợi nhuận mà một số tổ chức tín dụng đã có những bước đi sai lầm dẫn đến phá sản và không còn khả năng bồi hoàn lại các khoản tiền gửi của các tổ chức, cá nhân. Vì vậy, để có biện pháp kiểm soát và đảm bảo an toàn đối với hoạt động sử dụng tiền gửi của khách hàng cũng như tăng cường sự cẩn trọng của các tổ chức tín dụng trong việc sử dụng vốn, BHTG đã ra đời và thiết lập những quy tắc điều chỉnh hoạt động nhận tiền gửi của các tổ chức tín dụng. BHTG đã ra đời khá lâu trên thế giới, tuy nhiên, cho đến gần đây vẫn có khá nhiều cách tiếp cận, nhận định khác nhau của các học giả trên thế giới.
Carl Johan Lindgren cho rằng BHTG “là một cơ chế có giới hạn nhưng chính thức cung cấp sự bảo đảm mang tính pháp lý cho các khoản gốc (và thường là cả lãi) của các khoản tiền gửi”. Sau này học giả Choi J.B đã đưa ra một khái niệm cụ thể hơn về BHTG như sau: BHTG là chính sách bảo đảm tất cả hoặc một phần tiền gửi cùng lãi nhập gốc trên tài khoản tiền gửi sẽ được 11 z thanh toán cho người gửi tiền khi ngân hàng nhận tiền gửi bị phá sản hay mất khả năng thanh toán, theo cơ chế hợp đồng hoặc cam kết công khai. BHTG có thể hiểu là một loại hình bảo hiểm với những đặc điểm riêng khác với các loại hình bảo hiểm khác. Hiện nay pháp luật về BHTG một số nước (Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan…) không đưa ra khái niệm về BHTG nói chung mà chỉ xác định mục tiêu, mô hình BHTG, liệt kê các hoạt động của tổ chức BHTG.
Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 4 Luật BHTG năm 2012 của Việt Nam định nghĩa về BHTG như sau: “BHTG là sự bảo đảm hoàn trả tiền gửi cho người được bảo hiểm tiền gửi trong hạn mức trả tiền bảo hiểm khi tổ chức tham gia bảo hiểm tiền gửi lâm vào tình trạng mất khả năng chi trả tiền gửi cho người gửi tiền hoặc phá sản”. Hay nói cách khác, BHTG là việc tổ chức BHTG cam kết với tổ chức tham gia BHTG về việc sẽ thanh toán một khoản tiền (hạn mức chi trả bảo hiểm tùy theo quy định pháp luật của mỗi nước) cho người gửi tiền, khi tổ chức tham gia BHTG bị mất khả năng thanh toán và chấm dứt hoạt động. Cam kết này được thực hiện bằng hợp đồng bảo hiểm. Trong quan hệ này bao gồm ba chủ thể đó là: người được BHTG, tổ chức tham gia BHTG và tổ chức BHTG.
Đặc điểm của BHTG BHTG là loại hình bảo hiểm có tính đặc thù, so với hoạt động của các loại hình bảo hiểm thương mại, hoạt động BHTG có những điểm khác biệt: Thứ nhất, hoạt động BHTG không hướng đến mục tiêu lợi nhuận mà nhằm thực hiện mục tiêu công của mỗi nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, trong đó chủ yếu là bảo vệ quyền và lợi ích của các cá nhân đơn lẻ gửi tiền tại các tổ chức tín dụng tham gia BHTG. Vì vậy, việc tham gia BHTG mang tính bắt buộc tại hầu hết các quốc gia, trong khi đó các loại hình 12 z bảo hiểm khác thường là bảo hiểm thương mại và tự nguyện. Thứ hai, do mục tiêu cơ bản của BHTG gắn với các chính sách công của nhà nước nên chủ thể thực hiện các nghiệp vụ BHTG thông thường là các tổ chức tài chính đặc thù trực thuộc Chính phủ hoặc Bộ Tài chính của mỗi quốc gia. Theo đó, các tổ chức BHTG này không chỉ thực hiện các nghiệp vụ BHTG mà còn giúp cho nhà nước giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng khi các tổ chức này tham gia bảo hiểm tiền gửi.
Hoạt động giám sát này của tổ chức BHTG còn có sự hỗ trợ của các tổ chức giám sát tài chính và ngân hàng khác cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực tài chính. Thứ ba, về các loại chủ thể tham gia hoạt động BHTG, khác với quan hệ bảo hiểm thông thường là mối quan hệ trực tiếp giữa doanh nghiệp bảo hiểm và người tham gia bảo hiểm (thường đồng thời cũng là người hưởng thụ bảo hiểm), quan hệ BHTG luôn là quan hệ ba bên giữa: tổ chức BHTG, tổ chức tham gia BHTG, người được BHTG. Thứ tư, xuất phát từ thực tiễn hoạt động của các tổ chức tín dụng, các tổ chức nhận tiền gửi là tổ chức huy động nguồn vốn từ công chúng nhằm thực hiện các hoạt động tín dụng và các hoạt động kinh doanh khác nhằm kiếm lợi nhuận; trong trường hợp tổ chức nhận tiền gửi gặp rủi ro trong kinh doanh thì tất yếu sẽ gây ra thiệt hại về kinh tế cho người gửi tiền tại các tổ chức nhận tiền gửi này. Vì vậy, pháp luật của mỗi quốc gia quy định việc tổ chức tín dụng, tổ chức nhận tiền gửi bắt buộc phải tham gia BHTG sẽ là một biện pháp đảm bảo về mặt pháp lý đối với quyền lợi hợp pháp của người gửi tiền trong trường hợp tổ chức tham gia BHTG gặp rủi ro hay bị phá sản.
Thứ năm, mặc dù không phải đóng bất cứ khoản phí bảo hiểm nào nhưng cá nhân, tổ chức có tiền gửi được bảo hiểm tại tổ chức nhận tiền gửi tham gia BHTG lại là chủ thể được thụ hưởng từ hoạt động BHTG. Thực chất 13 z quan hệ giữa cá nhân, tổ chức có tiền gửi tại các tổ chức tín dụng là quan hệ giữa người cho vay và bên vay vốn trong quan hệ dân sự thông thường, trong trường hợp bên vay tiền – tổ chức tín dụng nhận tiền gửi mất khả năng thanh toán hay bị đổ vỡ thì tổ chức BHTG sẽ thực hiện nhiệm vụ chi trả tiền BHTG cho người gửi tiền được bảo hiểm tại tổ chức tín dụng, hay nói cách khác, đảm bảo quyền và lợi ích kinh tế cho người gửi tiền. Thứ sáu, trong hoạt động BHTG, để đảm bảo an toàn cho hoạt động tài chính và ổn định nền kinh tế, mỗi quốc gia sẽ căn cứ trên thực tiễn hoạt động ngân hàng và điều kiện kinh tế, xã hội của mình để đưa ra những quy định pháp luật về BHTG như địa vị pháp lý của tổ chức BHTG, mức phí BHTG cũng như hạn mức chi trả bảo hiểm cho các tổ chức, cá nhân có tiền gửi được bảo hiểm tại các tổ chức tín dụng khi có sự kiện BHTG xảy ra.Vai trò của BHTG Thứ nhất, BHTG góp phần bảo vệ người gửi tiền và nâng cao niềm tin của công chúng đối với hệ thống ngân hàng. Hoạt động BHTG là nhằm bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền, đảm bảo và duy trì tính an toàn của hoạt động ngân hàng trong một quốc gia.
Do vậy, nhiều nước trên thế giới đã ban hành và đưa vào thực thi hàng loạt biện pháp, chính sách nhằm củng cố, đảm bảo sự an toàn của hệ thống ngân hàng, duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính.