Chương 1, tác giả đã trình bày về mục tiêu nghiên cứu chung của đề tài là: phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển tín dụng xanh của các NHTM tại Việt Nam. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, tác giả đề xuất hàm ý chính sách góp phần phát triển tín dụng xanh của các NHTM tại Việt Nam. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Trong luận án, tác giả sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá và tổng hợp thông tin từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, số liệu sơ cấp và thứ cấp từ các tài liệu sẵn có để hình thành khung lý thuyết, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết nghiên cứu.
Về số liệu, tài liệu qua điều tra, khảo sát của luận án đã đánh giá phát triển tín dụng xanh của các NHTM tại Việt Nam và các hàm ý chính sách phát triển tín dụng xanh của các NHTM tại Việt Nam. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Các lý thuyết nền tảng 2.1 Kinh tế xanh Hiện nay, kinh tế xanh được hiểu là sự kết hợp giữa 3 yếu tố: kinh tế- xã hội- môi trường. Kinh tế xanh có tính chất bền vững, có nghĩa đó là những hoạt động tạo ra lợi nhuận hoặc giá trị có ích lợi, hướng đến phát triển cuộc sống của cộng đồng xã hội con người (đặc biệt là yếu tố văn hóa); đồng thời, những hoạt động này thân thiện với môi trường (thành tố quan trọng). Ba yếu tố này được cân bằng sẽ thỏa mãn tính bền vững.
Kinh tế xanh là một nền kinh tế cần thiết bởi nó tạo ra việc làm, bảo đảm tăng trưởng kinh tế bền vững và ngăn chặn ô nhiễm môi trường, nóng lên toàn cầu, cạn kiệt nguồn tài nguyên và suy thoái môi trường (Zhang & cộng sự, 2021). Kinh tế xanh (Green economy): theo UNESCAP (2012), tổng hợp từ các định nghĩa của nhiều quốc gia và chỉ ra điểm chung mà một nền kinh tế xanh cần hướng tới đó là việc giảm các tác động tiêu cực của hoạt động kinh tế tới môi trường và xã hội. Nền kinh tế xanh là một nền kinh tế mang lại sự thịnh vượng cho tất cả mọi người trong giới hạn sinh thái của hành tinh. Nó dựa trên năm nguyên tắc: Phúc lợi: Nền kinh tế xanh phải tạo ra phúc lợi chân chính, bền vững, được chia sẻ, vượt ra ngoài sự giàu có đơn thuần về tiền tệ để ưu tiên phát triển con người, sức khỏe, hạnh phúc, giáo dục và cộng đồng.
Công bằng: Nền kinh tế xanh nhấn mạnh công bằng, bình đẳng, gắn kết cộng đồng và hỗ trợ quyền con người - đặc biệt là quyền của người thiểu số và những người bị gạt ra ngoài lề xã hội. Nó tìm kiếm một sự chuyển đổi chính đáng và phục vụ lợi ích của tất cả các công dân, bao gồm cả những người chưa được sinh ra. Ranh giới hành tinh: Nền kinh tế xanh thừa nhận rằng tất cả sự phát triển của con người đều phụ thuộc vào một thế giới tự nhiên lành mạnh. Nó bảo vệ giá trị nội tại của tự nhiên và bảo vệ đa dạng sinh học, đất, nước, không khí và các thủ phủ hệ sinh thái khác.
Hiệu quả và đầy đủ: Nền kinh tế xanh là nền kinh tế ít các-bon, đa dạng và tuần hoàn. Nó thừa nhận rằng các ranh giới hành tinh đặt ra các giới hạn thực tế đối với tăng trưởng kinh tế và điều chỉnh các động lực kinh tế với chi phí thực sự cho xã hội. 10 Quản trị tốt: Nền kinh tế xanh xây dựng các thể chế kết hợp trách nhiệm giải trình dân chủ năng động với cơ sở vững chắc về khoa học tự nhiên và xã hội và kiến thức địa phương. Đời sống dân sự ưu tiên sự tham gia của cộng đồng, sự đồng ý, minh bạch và trách nhiệm giải trình (Xie & Liu, 2019).
Theo định nghĩa đầy đủ nhất của UNEP (2011): “nền kinh tế xanh là nền kinh tế vừa mang lại hạnh phúc cho con người và công bằng xã hội, vừa giảm thiểu đáng kể các nguy cơ về môi trường và suy giảm sinh thái. Đó là nền kinh tế ít phát thải carbon, sử dụng hiệu quả tài nguyên và đảm bảo công bằng xã hội”. Kinh tế xanh là khái niệm đã trở nên quen thuộc với các nền kinh tế trên thế giới. Đây là một nền kinh tế nhằm cải thiện đời sống con người và tài sản xã hội, đồng thời, chú trọng giảm thiểu những hiểm họa môi trường và sự khan hiếm tài nguyên (theo Chương trình môi trường Liên hiệp quốc, 2010).
Nhìn chung, kinh tế xanh là một sự thay đổi mang tính toàn cầu và mang tính chuyển đổi đối với hiện trạng toàn cầu, đòi hỏi sự thay đổi cơ bản trong các ưu tiên của chính phủ để đặt các ưu tiên về xã hội và môi trường lên trên các ưu tiên tài chính. Nhận ra sự thay đổi này không phải là dễ, nhưng nó là cần thiết. Nếu không có nó, tiến trình hướng tới các mục tiêu phát triển bền vững sẽ là chắp vá và không nhất quán, đồng thời các thách thức về kinh tế, môi trường, khí hậu và xã hội sẽ tiếp tục gia tăng.2 Tài chính xanh Tài chính xanh (Green Finance) là một trong số các thuật ngữ được sử dụng để gắn nhãn các hoạt động liên quan đến sự tương tác hai chiều giữa môi trường và tài chính và đầu tư. Các điều khoản liên quan bao gồm: đầu tư có trách nhiệm (RI), môi trường, xã hội và quản trị, tài chính bền vững và tài chính khí hậu.
Theo định nghĩa của UNEP (2016): tài chính xanh liên quan đến việc đa dạng hoá các sản phẩm và dịch vụ tài chính được cung cấp bởi các định chế tài chính hướng tới sự phát triển bền vững của quốc gia. Ngoài ra, tài chính xanh còn được định nghĩa là những hỗ trợ về tài chính hướng đến tăng trưởng xanh thông qua việc cắt giảm khí phát thải nhà kính và ô nhiễm môi trường một cách có ý nghĩa (Xiaowei & cộng sự, 2021). 11 Tài chính xanh có thể được coi là cách tiếp cận chiến lược của ngành tài chính để đáp ứng những thách thức của biến đổi khí hậu và quá trình chuyển đổi sang một thế giới các-bon thấp. Và, với mục đích của khóa học này, tài chính xanh được định nghĩa là, bất kỳ sáng kiến tài chính nào, quy trình, sản phẩm hoặc dịch vụ được thiết kế để bảo vệ môi trường tự nhiên hoặc quản lý như thế nào môi trường tác động đến tài chính và đầu tư (Viên Thế Giang & Võ Thị Mỹ Hương, 2019).
Đây là một định nghĩa rộng thừa nhận các khía cạnh khác nhau của khái niệm tài chính xanh, trong khi vẫn tập trung toàn diện vào việc nâng cao và duy trì môi trường tự nhiên và quản lý rủi ro môi trường hiện tại và tương lai. Nó làm nổi bật và nhận ra bản chất hai chiều của mối quan hệ. Tài chính và đầu tư có thể giúp ích hoặc gây hại cho môi trường kết quả, trong khi môi trường cũng có thể tích cực hoặc tác động tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của các khoản đầu tư hoặc hoạt động tài chính (Xiaowei & cộng sự, 2021). Tóm lại, tài chính xanh có nghĩa là nó có thể được sử dụng để chỉ các sản phẩm tài chính cụ thể và dịch vụ, bao gồm cả những dịch vụ được thiết kế để trực tiếp hưởng lợi môi trường và những thứ được thiết kế để quản lý rủi ro môi trường.
Khái niệm tài chính xanh còn khá mới mẻ với nền kinh tế Việt Nam, tuy nhiên, với bối cảnh biến đổi khí hậu diễn ra trên toàn cầu, là một trong những quốc gia có mức độ ô nhiễm hàng đầu hiện nay, Việt Nam ngày càng quan tâm đến vấn đề này. Đây được xem là giải pháp quan trọng, góp phần vào quá trình phát triển bền vững của nền kinh tế.3 Tăng trưởng xanh Tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững và là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường. Tăng trưởng xanh (Green growth): là sự kết hợp giữa sử dụng các yếu tố đầu vào một cách hiệu quả kèm theo hạn chế tác động tới môi trường. Tăng trưởng xanh là cả một quá trình với sự tham gia đóng góp của tất cả các đối tượng trong nền kinh tế, từ người tiêu dùng, nhà sản xuất, Chính phủ và các bên hữu quan (Mamun & Rana, 2020).
Theo Ủy ban Kinh tế xã hội khu vực Châu Á - Thái Bình Dương của Liên hiệp quốc, tăng trưởng xanh là Chiến lược để đạt được phát triển bền vững. Tăng trưởng 12 xanh chủ trương tăng trưởng GDP mà duy trì hoặc khôi phục lại chất lượng và tính toàn vẹn của môi trường sinh thái, đồng thời đáp ứng các nhu cầu của tất cả mọi người với mức thấp nhất có thể tác động đến môi trường (UNESCAP, 2012). Tăng trưởng xanh trở thành một lựa chọn tất yếu và là mục tiêu mà mọi quốc gia đang hướng tới. Đây là cách tiếp cận mới trong tăng trưởng kinh tế, hướng tới sự phát triển hài hòa kinh tế- xã hội với phục hồi và bảo tồn hệ sinh thái tự nhiên.
Ở phạm vi quốc tế, Thỏa thuận Paris và các mục tiêu phát triển bền vững đặt ra những kỳ vọng chung về tính bền vững toàn cầu trong tương lai với những thay đổi mang tính hiệu quả trong các lĩnh vực. Đối với Việt Nam, tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng của phát triển bền vững và là quá trình phát triển có sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý, hài hòa giữa phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ môi trường. Việt Nam là một trong những quốc gia bị tác động nặng nề bởi biến đổi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh và nhiều yếu tố tác động từ bên ngoài. Việt Nam đang trên đà đổi mới, chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, chất lượng và hiệu quả.
Đảng ta đã sớm xác định tăng trưởng xanh là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và các cấp chính quyền, các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và tổ chức xã hội (Viên Thế Giang & Võ Thị Mỹ Hương, 2019). Tóm lại, tăng trưởng xanh là một nội dung quan trọng trong phát triển bền vững, đảm bảo phát triển kinh tế nhanh, hiệu quả, bền vững và góp phần quan trọng thực hiện chiến lược quốc gia về chống biến đổi khí hậu.