MỞ ĐẦU 1. Tính cấp thiết của đề tài Việt Nam là một quốc gia nông nghiệp, nông dân chiếm phần lớn dân số của cả nƣớc. Theo số liệu của tổng cục thống kê, tính đến năm 2018, dân số Việt Nam đạt trên 90 triệu ngƣời với khoảng 65% sống ở khu vực nông thôn, nền kinh tế đang trên đà phát triển và hội nhập trong đó sản xuất nông nghiệp đã có những đóng góp to lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế xã hội của đất nƣớc. Tuy nhiên, khu vực này còn yếu kém về nhiều mặt, đặc biệt là kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, kinh tế nông thôn mà chủ yếu là nông nghiệp phát triển còn kém bền vững, sức cạnh tranh thấp, chuyển giao khoa học công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực còn hạn chế, chƣa phát huy hết lợi thế và nguồn lực cho phát triển.
Chính điều này đã làm cho đời sống vật chất, tinh thần của ngƣời dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo cao, chênh lệch giàu nghèo giữa nông thôn và thành thị lớn, phát sinh nhiều vấn đề xã hội bức xúc. Nhận thức đƣợc vấn đề này, trên cơ sở nghị quyết 26- NQ/TW, thủ tƣớng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1600/QĐ-TTg phê duyệt chƣơng trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 thay thế cho quyết định 800/QĐ-TTg ngày 4/6/2010. Đây là một chƣơng trình khung toàn diện nhất để cộng đồng chung sức xây dựng một nông thôn mới hiện đại nhằm tạo ra những giá trị mới của nông thôn Việt Nam. Vùng duyên hải Nam Trung Bộ gồm 8 tỉnh từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có tổng diện tích đất tự nhiên 4,45 triệu ha chiếm 13,2% diện tích cả nƣớc trong đó, đất nông nghiệp có 3,67 triệu ha chiếm 82,47% tổng diện tích đất nông nghiệp; toàn vùng có trên 1.300 km bờ biển, nhiều cảng biển, đƣờng giao thông, đƣờng sắt, đƣờng hàng không nối liền với các vùng khác trong cả nƣớc và quốc tế, có tài nguyên đất đai và khí hậu đa dạng, phong phú,… là điều kiện rất thuận lợi để phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, sau 10 năm triển khai thực hiện chƣơng trình Mục tiêu quốc gia Xây dựng nông thôn mới, vùng chỉ có 378/825 xã chiếm 45,82% đã đƣợc công nhận đạt chuẩn nông thôn mới, thấp hơn so với mức đạt chuẩn của cả nƣớc (50,8%), chỉ cao hơn Tây Nguyên (37,73%) và miền núi phía Bắc (26,45%). Kết quả luan an 2 thực hiện Chƣơng trình xây dựng nông thôn mới chƣa đồng đều giữa các tỉnh trong vùng, mặc dù điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội giữa các địa bàn không quá khác biệt. Một số tỉnh đến nay mới chỉ đạt dƣới 50% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Phú Yên, Khánh Hoà, Ninh Thuận) và số tiêu chí bình quân/ xã đạt dƣới 15 tiêu chí. Nhiều tiêu chí liên quan trực tiếp đến đời sống của ngƣời dân còn đạt rất thấp nhƣ tiêu chí về thu nhập (60,6%), hộ nghèo ( 61,3%), tổ chức sản xuất (70,3%).
Những tồn tại, yếu kém trong quá trình xây dựng nông thôn mới của vùng trong thời gian vừa qua có thể xuất phát từ nguyên nhân khách quan cũng nhƣ chủ quan nhƣ: hệ thống hạ tầng giao thông còn nhiều hạn chế, yếu kém; khả năng tổ chức sản xuất của một bộ phận dân cƣ ở vùng sâu, vùng xa chƣa phù hợp, ngƣời nông dân, hộ sản xuất, doanh nghiệp, hợp tác xã và trang trại trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn chủ yếu có quy mô nhỏ, vốn ít, thiếu nhạy bén với kinh tế thị trƣờng, năng lực cạnh tranh còn khá thấp dẫn tới việc liên doanh, liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ gặp phải nhiều khó khăn, bất cập; chính sách giảm đói nghèo những năm qua có nhiều khiếm khuyết dẫn đến tƣ tƣởng trông chờ, ỷ lại, bằng lòng với cuộc sống hiện tại, thiếu ý chí vƣơn lên thoát nghèo của một bộ phận ngƣời nghèo, một số khoản cho vay theo chƣơng trình kinh tế, tín dụng của Chính phủ ở nông thôn hiệu quả còn thấp; chính sách cho vay của ngân hàng chƣa gắn kết chặt chẽ với các chính sách của địa phƣơng… Bên cạnh đó, điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt, hàng năm thƣờng xảy ra nhiều trận bão lũ lớn, hạn hán kéo dài phá huỷ nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội; khả năng liên kết tạo thế mạnh của vùng còn manh mún, các tỉnh tự đầu tƣ, xây dựng và phát triển theo hƣớng chủ quan của mỗi địa phƣơng, tạo nên sự dàn trải, phân tán, nhỏ lẻ, tự phát, tính chuyên môn thấp dẫn đến thế mạnh của từng tỉnh bị lu mờ, chƣa có sự hợp tác, liên kết, hỗ trợ lẫn nhau giữa năm nhà làm cho hoạt động nông nghiệp ẩn chứa nhiều rủi ro. Những điều này đã làm cho các tổ chức tín dụng trong vùng dè dặt trong việc cấp tín dụng tại thị trƣờng nông thôn. Hiện dƣ nợ cho vay đối với xây dựng nông thôn mới vẫn chủ yếu tập trung ở Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn và Ngân hàng Chính sách xã hội (chiếm 88,9% so với dƣ nợ tín dụng xây dựng nông thôn mới của vùng), một trong những yếu tố vô cùng quan trọng dẫn đến quá trình xây dựng nông thôn mới ở các địa phƣơng nơi đây vẫn chƣa bắt luan an 3 kịp với nhiều khu vực khác của cả nƣớc. Chính vì vậy, đẩy mạnh nguồn vốn tín dụng ngân hàng đối với phát triển nông nghiệp, nông thôn, tạo điều kiện để ngƣời dân, doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao thu nhập, trở thành điểm tựa vững chắc trong phát triển kinh tế góp phần xây dựng nông thôn mới các tỉnh Nam Trung Bộ là một vấn đề cấp thiết.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả đã chọn đề tài: “Tín dụng ngân hàng góp phần xây dựng nông thôn mới các tỉnh Nam Trung Bộ” để làm đề tài nghiên cứu sinh. Tổng quan tài liệu nghiên cứu Tín dụng ngân hàng có tầm quan trọng rất lớn đối với nông nghiệp và phát triển nông thôn góp phần xây dựng nông thôn mới. Do đó, vấn đề này đã đƣợc nghiên cứu trong và ngoài nƣớc. Việt Nam là một nƣớc nông nghiệp và nền nông nghiệp đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo an ninh lƣơng thực, tạo việc làm và thu nhập cho trƣớc hết khoảng 65% dân cƣ, nhƣng những năm trƣớc đây nông nghiệp, nông thôn, nông dân chƣa đƣợc quan tâm đúng mức, đặc biệt là nguồn vốn tín dụng đƣa vào lĩnh vực nông nghiệp, đến khu vực nông thôn và ngƣời nông dân còn hạn chế, chƣa tƣơng xứng để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngƣời dân.
Vấn đề tam nông cũng nhƣ xây dựng nông thôn mới chỉ mới đƣợc triển khai mạnh mẽ từ năm 2010 đến nay với nhiều chính sách có hiệu quả tích cực. Trong những giải pháp thúc đẩy nông nghiệp phát triển, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nông dân thì hoạt động hỗ trợ vốn của ngân hàng đã có dấu hiệu tích cực từ một số văn bản Nhà nƣớc về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đảng và Nhà nƣớc đã ban hành nhiều chính sách cũng nhƣ giải pháp nhằm thúc đẩy kinh tế ở các vùng nông nghiệp, nông thôn phát triển. Từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng luôn nhấn mạnh việc “đẩy nhanh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn”.
Nhằm tạo hành lang pháp lý khai thông nguồn vốn tín dụng vào thị trƣờng tài chính nông thôn, ngày 30/3/1999 Thủ tƣớng Chính phủ ban hành Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg về chính sách tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn. Với chính sách này, dòng vốn tín dụng đã đƣợc đầu tƣ luan an 4 vào khu vực nông nghiệp, nông thôn mạnh mẽ hơn, đời sống ngƣời dân đƣợc cải thiện, đảm bảo an sinh xã hội…Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của nền kinh tế đã làm cho chính sách này không còn phù hợp với yêu cầu của thực tiễn. Chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn của Nghị định 41/2010/NĐ-CP (Nghị định 41) ra đời năm 2010 thay thế Quyết định số 67/1999/QĐ-TTg. Nghị định 41 có hiệu lực đã bổ sung đƣợc những khiếm khuyết của Quyết định 67, NHNN đẩy mạnh hơn nữa dòng vốn tín dụng vào nông nghiệp, nông thôn.
Tuy nhiên, sau 5 năm triển khai thực hiện, Nghị định 41 vẫn còn một số bất cập nhƣ: nguồn vốn tài trợ cho các hộ vay còn thấp chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu, số lƣợng các tổ chức tham gia cấp tín dụng còn quá ít, chƣa có chính sách khuyến khích, hỗ trợ hiệu quả với các hộ sản xuất quy mô lớn… Vì thế, ngày 9/6/2015, Chính phủ đã ban hành Nghị định 55/2015/NĐ-CP (Nghị định 55) thay thế, bổ sung cho Nghị định 41. Theo đó, Nghị định 55/CP đã khắc phục những hạn chế của Nghị định 41/CP nhƣ: mở rộng đối tƣợng đƣợc vay vốn, số tiền cấp tín dụng cho các hộ vay hoạt động sản xuất kinh doanh lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn đƣợc tăng lên, thủ tục vay vốn…. Đẩy mạnh nguồn lực vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn theo yêu cầu công nghệ 4.0, Nghị định 116/2018/NĐ-CP đƣợc ban hành sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 55 nhằm nới lỏng nút thắt về giới hạn vốn, tài sản đảm bảo, đối tƣợng vay… khuyến khích nhiều tổ chức tín dụng tham gia phục vụ vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn và xây dựng nông thôn mới. Ở nƣớc ngoài Theo tìm hiểu của nghiên cứu sinh, trên thế giới đã có khá nhiều nghiên cứu về lĩnh vực tín dụng cho khu vực nông thôn, điển hình phải kể đến các nghiên cứu của Lynette Ong (2012), Hoda, A.
(2015), Narayanamoorthy và Alli (2015), Kim, Young – Chul (2004), … Dƣới đây là một số nghiên cứu điển hình của học giả nƣớc ngoài về tín dụng nông nghiệp, nông thôn các quốc gia trên thế giới có điều kiện tự nhiên, kinh tế cũng nhƣ nền nông nghiệp với nhiều nét tƣơng đồng với Việt Nam. luan an 5 Lynette Ong (2012) trong nghiên cứu “Thịnh vượng hay diệt vong: hệ thống tín dụng và tài chính ở nông thôn Trung Quốc” đƣợc xuất bản bởi Trƣờng Đại học Báo chí Ithaca. Trong nghiên cứu này, tác giả đã nêu ra các vấn đề trong tín dụng nông nghiệp của Trung Quốc, đã chỉ ra sự mất cân đối giữa hệ thống tín dụng cấp trung ƣơng và cơ sở. Trong giai đoạn từ 1985 đến 2004, Hợp tác xã tín dụng nông thôn (RCCs) là các tổ chức ngân hàng chính thức của Trung Quốc chủ yếu để phục vụ ngƣời dân nông thôn.