CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1. TỔNG QUAN VỀ TÍN DỤNG CHÍNH SÁCH 1. Khái niệm về Tín dụng chính sách Sự ra đời Tín dụng chính sách ở Việt Nam bắt nguồn từ những học hỏi về Tài chính vi mô (TCVM) của các quốc gia trên thế giới Năm 1976, khái niệm TCVM lần đầu tiên được xuất hiện khi ông Muhammad Yunus triển khai dự án “Cho vay tín dụng và các dịch vụ ngân hàng cho người nghèo mà không đòi hỏi thế chấp ở vùng nông thôn Bangladesh”. Sự thành công vang dội của dự án đã thu hút được sự quan tâm, củng hộ của Chính phủ Bangladesh và thành lập Ngân hàng Grameen.
Ngân hàng ngày càng phát triển mạnh mẽ, vượt ra khỏi biên giới và truyền cảm hứng cho nhiều Tổ chức TCVM ra đời. Năm 2006, Ngân hàng Grameen và người sáng lập, ông Muhammad Yunus được Ủy ban Nobel trao giải “vì sự nỗ lực của họ trong việc tạo ra sự phát triển kinh tế và xã hội từ dưới lên”. Từ đó, đã khơi nguồn cho sự phát triển của TCVM, hướng tới công cuộc xóa đói giảm nghèo trên toàn thế giới. Hiện nay có nhiều cách hiểu về Tài chính vi mô: Theo Uỷ Ban Châu Âu (European Commission) (2000): “Tài chính vi mô là sự cung cấp dịch vụ tài chính trên một phạm vi rộng bao gồm tiết kiệm, cho vay, dịch vụ trả tiền, chuyển giao tiền và bảo hiểm tới người nghèo và các hộ gia đình thu nhập thấp và các doanh nghiệp nhỏ” Theo Christen et.
Al (2003) “Tài chính vi mô nói đến việc cung cấp các món vay nhỏ và không cần thế chấp tài sản cho những người không có khả năng tiếp cận đến các nguồn vốn để khởi xướng các hoạt động kinh doanh nhỏ hoặc các hoạt động tạo thu nhập cho họ” Theo lý giải của Ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Tài chính vi mô là việc cấp cho các hộ gia đình có thu nhập thấp các khoản vay nhỏ, nhằm mục đích giúp họ tham gia vào các hoạt động sản xuất hoặc khởi tạo các hoạt động kinh doanh nhỏ. Tài chính vi mô thường kéo theo hàng loạt các dịch vụ khác như tiết kiệm, bảo 8 hiểm, vì những người nghèo, người có thu nhập thấp có nhu cầu rất lớn đối với các sản phẩm tài chính, nhưng khó tiếp cận được các thể chế tài chính chính thức.” Ở Việt Nam, TCVM ngày càng phát triển, khẳng định được vai trò của mình trong công cuộc giúp người nghèo và các những người có thu nhập thấp tiếp cận được các dịch vụ tài chính, ngân hàng một cách nhanh chóng, thuận tiện góp phần xóa đói, giảm nghèo, phát triển kinh tế đất nước. Trong những năm qua, Chính phủ và các Bộ, ngành đã có nhiều chính sách khuyến khích phát triển các hoạt động TCVM ở Việt Nam như: Quyết định số 20/2017/QĐ-TTg ngày 12/06/2017 của Thủ tướng Chính phủ quy định về hoạt động của chương trình, dự án TCVM của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức phi chính phủ; Thông tư số 03/2018/TT- NHNN ngày 23/02/2018, Quy định về cấp giấy phép, tổ chức và hoạt động của tổ chức TCVM. Khung khổ pháp lý này đã góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy TCVM ở Việt Nam trong những năm qua có nhiều chuyển biến tích cực.
Các Tổ chức cung cấp dịch vụ TCVM ở nước ta được chia thành 3 nhóm: Các tổ chức vi mô chính thức, Tổ chức vi mô bán chính thức và Tổ chức vi mô phi chính thức. Trong đó, Ngân hàng Chính sách xã hội là tổ chức vi mô chính thức lớn nhất Việt Nam, thực hiện cung cấp tín dụng chính sách cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác. Theo Điều 1, Nghị định số 78/2002/NĐ-CP ngày 04/10/2002 của Chính phủ: “Tín dụng chính sách là việc sử dụng các nguồn lực tài chính do Nhà nước huy động để cho người nghèo và các đối tượng chính sách khác vay ưu đãi phục vụ sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống; góp phần thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo, ổn định xã hội” 1. Đặc điểm của Tín dụng chính sách Từ khái niệm trên có thể thấy tín dụng chính sách xã hội có những đặc trưng cơ bản sau: Một là, đây là kênh tín dụng không vì mục tiêu lợi nhuận: Mục tiêu của tín dụng chính sách là không vì mục tiêu lợi nhuận mà là nhằm phục vụ sản xuất kinh 9 doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống, góp phần thực hiện chương trình mục tiêu XĐGN, ổn định kinh tế - chính trị và bảo đảm an sinh xã hội.
Hai là, đối tượng vay vốn tín dụng chính sách xã hội là người nghèo và các đối tượng chính sách khác theo chỉ định của Chính phủ như gia đình nghèo, cận nghèo, mới thoát nghèo, những gia đình có công với cách mạng, hộ đồng bào dân tộc thiểu số, người khuyết tật, người nhiễm HIV, những hộ dân khó khăn không có nước sạch công trình vệ sinh đảm bảo ở khu vực nông thôn, những tổ chức kinh tế, hộ sản xuất kinh doanh tại vùng khó khăn, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo… Đó là những ĐTCS, nghèo khó, nhạy cảm trong xã hội, thiếu nguồn vốn để phát triển sản xuất, thiếu kiến thức, trình độ, điều kiện sinh hoạt thiếu thốn, khó khăn, không đủ điều kiện vay vốn ở những tổ chức tài chính thương mại trên thị trường. Ba là, nguồn vốn để cho vay đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác là nguồn vốn của Nhà nước, tức là nguồn vốn từ Ngân sách và có nguồn gốc từ Ngân sách Nhà nước. Bốn là, người nghèo và các đối tượng chính sách khác khi vay vốn được ưu đãi về lãi suất cho vay, điều kiện vay vốn (Hầu hết các chương trình cho vay không phải thế chấp tài sản), thủ tục cho vay và cách tiếp cận với nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội. + Ưu đãi về lãi suất cho vay: Mức lãi suất cho vay của TDCS thấp hơn mức lãi suất của các ngân hàng thương mại.
Các mức lãi suất được thực hiện theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ. + Ưu đãi về điều kiện vay vốn: Các quy định về điều kiện vay vốn, tài sản đảm bảo tiền vay luôn được điều chỉnh linh hoạt trong từng thời điểm, từng mục đích vay vốn, gắn với thực tiễn địa phương và hoàn cảnh của các ĐTCS, bảo đảm họ có thể dễ dàng tiếp cận được vốn vay; thủ tục vay vốn nhanh gọn, giải ngân tại điểm giao dịch xã gần nơi sinh sống của các đối tượng chính sách + Ưu đãi về hỗ trợ sử dụng tiền vay: Hoạt động tín dụng chính sách có sự tham gia vào cuộc của Chính phủ, các ngân hàng, các Tổ chức CT-XH các cấp. Với 10 đội ngũ Tổ tiết kiệm vay vốn, Tổ chức CT-XH , cán bộ quản lý địa bàn luôn hỗ trợ, tư vấn giúp các đối tượng chính sách sử dụng vốn hiệu quả. TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM 1.
Khái niệm và vai trò của hoạt động cho vay giải quyết việc làm 1. Khái niệm Cho vay GQVL là việc sử dụng các nguồn lực tài chính của Nhà nước hoặc được Nhà nước hỗ trợ thông qua tổ chức tín dụng để cho vay hỗ trợ các dự án nhỏ nhằm tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống, giảm thất nghiệp, góp phần thực hiện mục tiêu quốc gia về xóa đói giảm nghèo, ổn định xã hội. GQVL là nâng cao chất lượng việc làm và tạo ra thêm việc làm để thu hút ngày càng nhiều người lao động vào guồng máy sản xuất của nền kinh tế. Như vậy, GQVL không chỉ nhằm tạo thêm việc làm mà còn phải nâng cao chất lượng việc làm.
Đây là vấn đề còn ít được chú ý khi đề cập đến vấn đề GQVL, người ta chỉ quan tâm đến khía cạnh thứ hai của nó là vấn đề tạo ra việc làm. Như vậy, vấn đề tạo việc làm và GQVL đối với người lao động trong xã hội hiện nay được xem như là một trong số những vấn đề quan trọng hàng đầu trong việc phát triển kinh tế, xã hội, chính trị của một quốc gia. Tại Việt Nam, cho vay GQVL hiện nay đang được thực hiện bởi NHCSXH. Về cơ bản, cho vay GQVL cũng tuân thủ theo các quy trình cho vay thông thường, bao gồm có tiếp nhận hồ sơ, dự án xin vay vốn, đảm bảo có tài sản thế chấp, cầm cố theo quy định đối với những món vay trên 30 triệu đồng.
Tuy nhiên, dự án xin vay vốn phải đảm bảo tạo ra được ít nhất một chỗ làm mới cho người lao động. Tuỳ theo từng đối tượng khách hàng được vay vốn để lập hồ sơ xin vay theo hướng dẫn cụ thể. Cũng tuỳ theo dự án xin vay thuộc nguồn vốn do UBND cấp tỉnh hay do các tổ chức CT-XH quản lý mà có sự phân cấp thẩm định và xét duyệt dự án khác nhau. Mọi quy định về mức vay và lãi suất cho vay ưu đãi của chương trình cho vay GQVL từng thời kỳ đều do Chính phủ quy định và có sự phối hợp đồng bộ, hướng dẫn thực hiện của các bộ: Bộ Tài chính, Bộ Lao động thương binh xã hội và Bộ Kế hoạch và Đầu tư.
Theo vai trò, nhiệm vụ của NHCSXH thì cho vay GQVL là một hình thức quan hệ tín dụng tài trợ của Nhà nước; Nhà nước dùng nguồn lực tài 11 chính của mình để hỗ trợ các thành phần kinh tế, các đối tượng chính sách thông qua hoạt động cho vay của NHCSXH với những cơ chế ưu đãi riêng biệt nhằm thực hiện mục tiêu là tạo việc làm và ổn định các chính sách KT-XH của Nhà nước. Vai trò của hoạt động cho vay giải quyết việc làm Cho vay GQVL đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nền KT-XH, thể hiện qua những điểm sau: Thứ nhất, cho vay GQVL góp phần từng bước ổn định và nâng cao đời sống cho người lao động. Mặt trái của cơ chế thị trường đó là sự phân hoá giàu nghèo ngày càng sâu sắc. Do đó, để ổn định đời sống cho người lao động cần có nguồn vốn hỗ trợ từ Nhà nước giúp người dân đi vào SXKD ổn định.
Thứ hai, cho vay GQVL kích thích tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc cho vay với lãi suất ưu đãi, điều kiện vay vốn nới lỏng sẽ có tác động phát huy mọi tiềm năng về lao động, đất đai sẵn có. Việc hỗ trợ vốn cho cá nhân, hộ gia đình dựa trên nguyên tắc có hoàn trả sẽ khuyến khích các hộ gia đình đầu tư sản xuất, tạo ra sản phẩm cho xã hội đồng thời giúp họ dễ dàng thực hiện nghĩa vụ trả nợ.