CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Cơ sở lý luận về tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm và đặc điểm về tín dụng khách hàng cá nhân của ngân hàng 1.1 Khái niệm tín dụng Theo luật các TCTD số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”. Nguyễn Minh Kiều (NXB Tài chính, 2007): “ TDNH là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ Ngân hàng cho Khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí nhất định”. Như vậy, tín dụng ngân hàng là hình thức phản ánh mối quan hệ cho vay, trả nợ giữa ngân hàng với tổ chức tín dụng và người đi vay (cá nhân, tổ chức kinh tế). Tín dụng ngân hàng là hình thức tín dụng rất linh hoạt vì đối tượng cho vay là tiền tệ và có thể đáp ứng nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng, từ những khoản vay nhỏ để đáp ứng chi tiêu trong gia đình đến những khoản vay lớn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phục vụ phát triển kinh tế xã hội.
Tín dụng ngân hàng đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế một cách linh hoạt và kịp thời.2 Khái niệm tín dụng khách hàng cá nhân Theo cuốn “Retail lending” (2023): “Tín dụng bán lẻ được định nghĩa là tín dụng đóng và mở dành cho các cá nhân với mục đích chi tiêu hộ gia đình, gia đình và các chi tiêu cá nhân khác. Điều này bao gồm các khoản vay tiêu dùng, thẻ tín dụng, khoản vay mua ô tô, khoản vay dành cho sinh viên và khoản vay cho các cá nhân được bảo đảm bằng nhà ở cá nhân của họ, bao gồm khoản vay thế chấp lần đầu, vốn chủ sở hữu nhà và các khoản vay sửa chữa nhà”. Phan Thị Thu Hà (2006): “Tín dụng khách hàng cá nhân là việc ngân hàng chuyển nhượng quyền sở hữu vốn cho khách hàng là cá nhân hoặc hộ gia đình với mục đích tiêu dùng và hoạt động sản xuất kinh doanh nhỏ của cá nhân và hộ gia đình đó với những điều kiện nhất định được thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.” 6 Như vậy:“tín dụng khách hàng cá nhân của NHTM là một bộ phận của tín dụng NHTM, do đó có thể hiểu tín dụng khách hàng cá nhân là mối quan hệ chuyển giao vốn giữa ngân hàng và khách hàng cá nhân trong nền kinh tế, trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định. Trong đó, khách hàng cá nhân có thể hiểu là một cá thể hoặc hộ gia đình.3 Đặc điểm của tín dụng khách hàng cá nhân Tín dụng khách hàng cá nhân có những đặc điểm riêng khác với các loại tín dụng khác.
Đối tượng khách hàng vay: Khách hàng của hạn mức tín dụng cá nhân là cá nhân và gia đình. Theo thống kê, người thu nhập cao có xu hướng vay nhiều tiền hơn người thu nhập thấp để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, đồng thời họ cũng có nhu cầu vay nhiều hơn thu nhập hàng ngày trong một năm. Tương tự, các hộ gia đình mà chủ hộ hoặc nguồn thu nhập chính có trình độ học vấn cao hơn cũng có xu hướng có nhu cầu về hàng hóa hiện đại và xa xỉ hơn, do đó có nhu cầu vay vốn cao hơn. Mục đích vay: phục vụ nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất, sinh hoạt của cá nhân, gia đình.
Nhu cầu vay vốn phụ thuộc vào tâm lý khách hàng và chu kỳ kinh tế. Khi nền kinh tế tăng trưởng ổn định, khách hàng cá nhân sẽ lạc quan hơn về tương lai và mong đợi thu nhập nhiều hơn trong tương lai, từ đó thúc đẩy chi tiêu tiêu dùng hiện tại hoặc đầu tư vào sản phẩm. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, người dân có xu hướng cắt giảm chi tiêu và giảm đầu tư vào sản xuất kinh doanh, thay vào đó tăng tiết kiệm và hạn chế vay vốn ngân hàng. Mức thu nhập và trình độ học vấn là hai yếu tố ảnh hưởng lớn đến nhu cầu vay vốn của khách hàng.
Quy mô cho vay: Quy mô tín dụng của khách hàng cá nhân tương đối lớn, ngoài cho vay mua bất động sản, chủ yếu đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân nhưng số lượng cho vay tương đối lớn. Do tín dụng khách hàng cá nhân đáp ứng nhu cầu của cá nhân và gia đình nên quy mô tín dụng tương đối nhỏ. Đồng thời, do đối tượng chính của tín dụng cá nhân là cá nhân và gia đình nên số lượng lớn, nhu cầu tiêu dùng rất đa dạng nên lượng tín dụng lớn. Đặc biệt các ngân hàng thương mại định hướng phát triển mô hình ngân hàng bán lẻ có lượng khách hàng cá nhân rất lớn.
Vì vậy, tổng quy mô cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dư nợ cho vay ngân hàng. Ngoài ra, việc cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân diễn ra thường xuyên và khối lượng giao dịch tiếp tục tăng. Do lượng tín dụng lớn nên nếu các ngân hàng thương mại tập trung phát triển thì lợi nhuận từ hoạt động tín dụng đối với khách hàng cá nhân sẽ không hề nhỏ. Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân: Rủi ro tín dụng khách hàng cá nhân tương đối cao và được coi là tài sản rủi ro nhất trong danh mục tài sản của ngân hàng.
Rủi ro đến từ chính người đi vay, có thể do tình hình tài chính biến động dẫn đến mất khả năng trả nợ hoặc khách hàng cố tình từ chối trả nợ hoặc do biến động về sức khỏe, việc làm, v. Ngoài ra, việc đánh giá khả năng thanh toán của một cá nhân, một gia đình là điều vô cùng khó khăn. Do tính bất đối xứng, không đầy đủ và thiếu minh bạch về nguồn thông tin nên các ngân hàng thương mại gặp khó khăn trong việc xác minh thông tin và kiểm soát sau cho vay. Khách hàng có thể cố tình che giấu hoặc cung cấp thông tin sai lệch, nhân viên ngân hàng dễ gặp rủi ro khi cấp tín dụng cho khách hàng cá nhân.
Do rủi ro tín dụng cao đối với khách hàng cá nhân, các ngân hàng thường yêu cầu tài sản thế chấp khi cho vay và yêu cầu người vay mua bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm hàng hóa để hạn chế tổn thất khi rủi ro tín dụng xảy ra. Chi phí quản lý tín dụng đối với khách hàng cá nhân cao: ngân hàng phải dành nhiều thời gian và nhân lực để điều tra, thu thập thông tin về khách hàng cá nhân và khách hàng vay mua nhà trước khi đưa ra quyết định cho vay. Đồng thời, số lượng tín dụng khách hàng cá nhân lớn khiến chi phí quản lý tín dụng cá nhân tương đối cao. Không những vậy, ngân hàng còn phải chịu các chi phí liên quan khác như chi phí giám sát, kiểm tra sau cho vay.
Lãi suất cao hơn so với các khoản tín dụng khác: Do quy mô tín dụng được cấp có xu hướng nhỏ hơn nên chi phí cấp tín dụng cao hơn và rủi ro của các khoản tín dụng này cũng khá cao. Vì vậy, lãi suất cho vay khách hàng cá nhân thường cao hơn lãi suất vay tín dụng khác của các ngân hàng thương mại. Cho đến nay, tín dụng khách hàng cá nhân được các ngân hàng đánh giá là khoản mục có khả năng sinh lời cao với lãi suất “cứng nhắc”. Điều này có nghĩa là lãi suất đủ để trang trải chi phí huy động vốn của ngân hàng, không giống như hầu hết các khoản tín dụng khác hiện nay, nơi lãi suất thay đổi tùy theo điều kiện thị trường.
Vì vậy, đối với tín dụng khách hàng cá nhân, khi chi phí huy động vốn tăng cao, ngân hàng sẽ phải gánh chịu rủi ro về lãi suất. Tuy nhiên, những khoản tín dụng này thường được định giá rất cao vì chúng bao gồm phần bù rủi ro lãi suất mà lãi suất thị trường đối với tín dụng đối với khách hàng cá nhân sẽ phải tăng đáng kể để tạo ra bất kỳ khoản lợi nhuận nào cho các ngân hàng thương mại. Nguồn thu nhập càng ổn định và sự kiểm soát của ngân hàng càng lớn thì lãi suất áp dụng cho khách hàng càng thấp. Tình trạng khách hàng: là yếu tố rất khó xác định nhưng lại cực kỳ quan trọng khi ngân hàng đưa ra quyết định cho vay vì nó quyết định tình trạng trả nợ của khách 8 hàng.
Tình trạng khách hàng quyết định sự sẵn lòng trả nợ của người vay. Nếu khách hàng được đánh giá là có tư cách tốt, có khả năng sử dụng vốn vay đúng mục đích và có thiện chí trả nợ cao hơn thì việc đầu tư vào sản xuất kinh doanh của khách hàng sẽ có lợi hơn. Nhờ đó, ngân hàng có thể hạn chế được rủi ro nợ quá hạn, nợ khó đòi. Nhưng đây là yếu tố rất khó xác định vì khách hàng thường có ý định che giấu thông tin.
Vì vậy, quyết định có cấp tín dụng trong những tình huống này hay không phụ thuộc phần lớn vào trình độ và kinh nghiệm của nhân viên cho vay.2 Vai trò của hoạt động tín dụng khách hàng cá nhân a. Đối với nền kinh tế Góp phần tạo sự năng động cho các thành phần kinh tế: Tín dụng cá nhân là kênh hỗ trợ vốn để dân chúng trang trải các chi phí phát sinh trong cuộc sống từ thỏa mãn các nhu cầu thiết yếu cho đến nhu cầu xa xỉ với chi phí đắt đỏ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống. Nhằm đáp ứng các nhu cầu của khách hàng, các doanh nghiệp phải đẩy mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh. Góp phần tạo sự ổn định về mặt xã hội: Tín dụng cá nhân góp phần khai thác triệt để các nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội rồi lưu thông các nguồn vốn này một cách trôi chảy, có hiệu quả, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao.
Đối với ngân hàng Đóng góp vào lợi nhuận của Ngân hàng: Hoạt động chính của ngân hàng là huy động tiền gửi và sử dụng số tiền này vào hoạt động kinh doanh để kiếm lợi nhuận.