Chương 1: Giới thiệu. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và dữ liệu. Chương 4: Kết quả nghiên cứu.
Chương 5: Kết luận và kiến nghị. 4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG 2. Khái niệm về tín dụng ngân hàng Nguyễn Văn Tiến (2010) đã đưa ra khái niệm: “Tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng thỏa thuận để khách hàng sử dụng một tài sản (bằng tiền, tài sản thực hay uy tín) với nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu (tái chiết khấu), cho thuê tài chính, bảo lãnh ngân hàng hay các nghiệp vụ khác”.
Vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng tài sản (vốn) giữa ngân hàng với các chủ thể khác trong nền kinh tế mà ngân hàng giữ vai trò vừa là người đi vay (con nợ) vừa là người cho vay (chủ nợ). Các đặc trưng của tín dụng ngân hàng Tài sản giao dịch trong tín dụng ngân hàng bao gồm hai hình thức là cho vay (bằng tiền) và cho thuê (bất động sản và động sản). Người cho vay khi chuyển giao tài sản cho người đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng người đi vay sẽ trả nợ đúng hạn. Giá trị hoàn trả thông thường phải lớn hơn giá trị lúc cho vay.
Tiền vay được cấp trên cơ sở hoàn trả vô điều kiện. Vai trò của tín dụng ngân hàng Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế: Thừa/thiếu vốn tạm thời thường xảy ra ở các doanh nghiệp, việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Ngoài ra, tín dụng còn là cầu nối giữa tiết kiệm và đầu tư, là động lực kích thích tiết kiệm đồng thời là phương tiện đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển. 5 Thúc đẩy nền kinh tế phát triển: Hoạt động của các ngân hàng là tập trung vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi mà vốn này nằm phân tán khắp mọi nơi, trong tay các doanh nghiệp, các cơ quan Nhà nước và cá nhân, trên cơ sở đó cho vay các đơn vị kinh tế, những người có nhu cầu về vốn và từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành mũi nhọn: Trong điều kiện nước ta, Nhà nước tập trung tín dụng để tài trợ cho các ngành kinh tế mũi nhọn, mà phát triển các ngành này sẽ tạo cơ sở lôi cuốn các ngành kinh tế khác phát triển như sản xuất hàng xuất khẩu, khai thác dầu khí… Tạo điều kiện phát triển các quan hệ kinh tế với các doanh nghiệp nước ngoài: Trong điều kiện ngày nay, phát triển kinh tế của một quốc gia gắn liền với kinh tế thế giới, tín dụng ngân hàng đã trở thành một trong những phương tiện nối liền kinh tế các nước với nhau. Đối với các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng, tín dụng đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa đồng thời nhờ nguồn tín dụng bên ngòai để công nghiệp hóa và hiện đại hóa nền kinh tế. Các hình thức tín dụng ngân hàng Các hình thức tín dụng ngân hàng được phân loại dựa trên nhiều tiêu thức khác nhau, bao gồm: 2. Căn cứ vào mục đích sử dụng vốn tín dụng, tín dụng được chia làm các loại: - Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: Đây là loại tín dụng cấp cho các chủ thể kinh tế để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Tín dụng tiêu dùng: Đây là hình thức tín dụng cấp cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà ở, xe ôtô, các hàng hóa tiêu dùng khác…Ngày nay tín dụng tiêu dùng là một trong những xu hướng phát triển và trở thành một thị trường tín dụng rộng lớn. Căn cứ vào sự đảm bảo tín dụng, tín dụng được chia làm các loại: - Tín dụng không có đảm bảo: Là loại tín dụng mà người vay không buộc phải sử dụng đến tài sản thế chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của bên thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. - Tín dụng có đảm bảo: Là lọai tín dụng mà người cho vay đòi hỏi người vay vốn phải có tài sản, cầm cố, thế chấp hoặc bảo lãnh của bên thứ ba. Căn cứ vào phương pháp hoàn trả, tín dụng được chia làm các loại: - Tín dụng trả góp: Là loại tín dụng mà khách hàng phải hoàn trả vốn gốc và lãi theo định kỳ.
- Tín dụng hoàn trả cố định: Là loại tín dụng được thanh toán một lần theo kỳ hạn đã thỏa thuận. - Tín dụng hoàn trả theo yêu cầu: Là loại tín dụng mà người vay có thể hoàn trả bất cứ lúc nào khi có thu nhập. Căn cứ vào hình thức cấp tín dụng của ngân hàng,tín dụng được chia làm các loại: cho vay (bằng tiền mặt hoặc chuyển khoản…), cho thuê tài chính, chiết khấu và tái chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh tín dụng… 2. Căn cứ vào thời hạn tín dụng, tín dụng được chia làm các loại: - Tín dụng ngắn hạn: là các khoản tín dụng mà thời hạn không quá 12 tháng nhằm đáp ứng các nhu cầu thiếu hụt vốn tạm thời của khách hàng, như bổ sung ngân quỹ, đảm bảo khả năng thanh toán đến hạn, bổ sung nhu cầu vốn lưu động hay đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cá nhân tạm thời thiếu hụt.
Đây là loại tín dụng có mức rủi ro thấp do thời gian hoàn vốn nhanh, tránh được các rủi ro thường gặp trong quan hệ tín dụng như: rủi ro lãi suất, rủi ro lạm phát, rủi ro tỷ giá…cũng như sự bất ổn trong môi trường vĩ mô. Và cũng vì tính đánh đổi rủi ro trong tín dụng, rủi ro thấp được trả giá bằng mức lãi suất thấp hơn so với các loại tín dụng trung và dài hạn. - Tín dụng trung và dài hạn: là loại tín dụng có thời hạn vay trả dài hạn – thường là trên một năm, dùng đề cấp vốn cho các đối tượng đầu tư dài hạn, như xây dựng doanh nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, đường giao thông, bến cảng, sân bay…cải tiến mở rộng với quy mô lớn. Nhìn chung tín dụng trung và dài 7 hạn đầu tư để hình thành tài sản cố định.
Do tính thời gian dài, lượng vốn cho vay lớn nên tính rủi ro khá cao. Tín dụng trung, dài hạn có những hình thức chủ yếu sau: ➢ Hình thức tín dụng thuê mua: là hình thức tín dụng cho thuê tài sản dài hạn, mà trong thời hạn đó ngân hàng chuyển giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho doanh nghiệp thuê sử dụng. Doanh nghiệp có trách nhiệm thanh toán tiền thuê trong suốt thời gian thuê. ➢ Hình thức tín dụng bảo lãnh: là cam kết của ngân hàng về việc thực hiện nghĩa vụ trả nợ thay thế cho chủ đầu tư đứng ra nhập máy móc, thiết bị với thời gian ít nhất là một năm trong trường hợp khách hàng không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ với người xuất khẩu.
Hình thức tín dụng này sử dụng khi chủ đầu tư muốn nhập máy móc thiết bị của nước ngoài mà không có tiền trả hết một lần ngay. Họ ký hợp đồng với bên xuất khẩu và trả dần giá trị của thiết bị nhập hàng năm có sự đứng ra bảo lãnh của ngân hàng. Trong trường hợp chủ đầu tư không thực hiện được nghĩa vụ trả nợ cho bên xuất khẩu thì ngân hàng phải đứng ra trả nợ thay cho chủ đầu tư. Lúc này ngân hàng trở thành chủ nợ chính của chủ đầu tư.
➢ Hình thức đồng tài trợ: hình thức này được thực hiện khi có một dự án khả thi với quy mô lớn, chủ đầu tư đến xin vay ngân hàng nhưng số vốn xin vay vượt quá khả năng của ngân hàng hoặc quy định trong hoạt động ngân hàng. Lúc này ngân hàng sẽ ký hợp đồng với một hoặc một số ngân hàng khác để họ cùng góp vốn đầu tư vào dự án. Bằng hình thức này, ngân hàng có thể tiến hành đầu tư vào dự án cùng với các ngân hàng khác để có thể cùng thu được lợi nhuận. Hoặc cùng san sẻ khi có rủi ro xảy ra nhất là những dự án đầu tư vào lĩnh vực có tỷ suất lợi nhuận cao, như vậy hình thức đầu tư đồng tài trợ sẽ giúp ngân hàng phân tán được rủi ro để giữ an toàn vốn.
Hình thức đồng tài trợ sẽ giúp chủ đầu tư có đủ vốn tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh để có thể thu được lợi nhuận theo dự kiến. TÍN DỤNG CÁ NHÂN 2. Tổng quát về tín dụng cá nhân Theo tiến sĩ Nguyễn Minh Kiều “ Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ ngân hàng cho khách hàng trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định” Trên cơ sở định nghĩa “ Tín dụng ngân hàng ” nêu trên và trong phạm vi của luận văn này, đối tượng khách hàng cá nhân bao gồm cá nhân và hộ gia đình có giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh cá thể, vì vậy Tín dụng cá nhân là hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho khách hàng cá nhân hoặc hộ gia đình sử dụng trong một khoản thời gian nhất định phải hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể. Tín dụng cá nhân đóng góp lớn đến sự lưu thông các nguồn vốn trong xã hội, điều chuyển vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, từ nơi hiệu quả thấp đến nơi hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu vốn cho kinh doanh hoặc tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình.
Tín dụng cá nhân đã phát triển từ lâu trên thế giới, và mới được phát triển mạnh ở Việt Nam khoảng mười năm trở lại đây. Tuy nhiên tín dụng cá nhân đã nhanh chóng thu hút được nhiều khách hàng và có tiềm năng rất lớn để phát triển. Điểm thuận lợi là quy mô thị trường lớn với dân số động, đa số trong đó có độ tuổi trẻ, có thu nhập ngày càng cao và có nhu cầu chi tiêu cho nhiều mục đích. Hiên nay xu hướng tiêu dùng trước, trả sau để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho cuộc sống tăng nhanh, nhất là ở các thành phố lớn.