Chương 1, tác giả chủ yếu trình bày về lí do chọn đề, mục tiêu nghiên cứu của đề tài. Ngoài ra, đề tài đã trình bày đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Tác giả tiếp tục tìm hiểu cơ sở lý thuyết liên quan đến rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam chi nhánh Đồng Nai ở chương 2. 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2.1 Cơ sở lý thuyết rủi ro tín dụng 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng Rủi ro tín dụng là một vấn đề đặc biệt được quan tâm trong toàn nền kinh tế và trong các ngân hàng.
Ủy ban Basel coi rủi ro tín dụng là khả năng bên đối tác hoặc khách hàng vay của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận. Theo lý thuyết này, rủi ro tín dụng bao gồm không chỉ các mối quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng mà còn trong các hoạt động khác của ngân hàng, chẳng hạn như đầu tư và phái sinh. Tuy nhiên, như đã nêu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận án chỉ nghiên cứu rủi ro tín dụng trong hoạt động cấp tín dụng của ngân hàng, do đó rủi ro tín dụng có thể được hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ của khách hàng vay. Còn theo cách hiểu tại các ngân hàng Việt Nam thì rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết (Nguyễn Như Dương, 2018; Phan Đình Khôi & Nguyễn Việt Thành 2017).
Do đó, nội dung của rủi ro tín dụng có thể được tóm tắt như sau, dựa trên nhiều định nghĩa khác nhau: Rủi ro tín dụng là khi bên được cấp tín dụng, bên có nghĩa vụ hoặc đối tác không thực hiện hoặc không thể thực hiện toàn bộ hoặc một phần nghĩa vụ của mình theo cam kết. Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12 ngày 16/6/2010 quy định Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác. Trong hoạt động cấp tín dụng, nghiệp vụ cho vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong hoạt động tín dụng (chiếm đến hơn 80%), vì vậy phạm vi của đề tài chỉ phân tích rủi ro tín dụng liên quan đến hoạt động cho vay, ngoài ra, rủi ro cho vay mang đầy đủ tính chất của rủi ro tín dụng nên để tránh hiểu 8 nhầm trong xuyên suốt nội dung của đề tài, việc nhắc tới rủi ro tín dụng cũng có nghĩa là rủi ro cho vay và ngược lại. Theo khoản 1 Điều 3 Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 quy định về việc phân loại, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng định nghĩa Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng (sau đây gọi tắt là rủi ro) là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Theo Ủy ban Basel, rủi ro tín dụng là những rủi ro có nguyên nhân từ sự không chắc chắn về khả năng hoặc độ sẵn sàng của một đối tác thực thi các nghĩa vụ trong hợp đồng tín dụng. Theo Cục quản lý tiền tệ Hong Kong định nghĩa rủi ro tín dụng là rủi ro mà người vay hoặc đối tác có thể không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết. Theo Zergaw (2018), rủi ro vỡ nợ là là khả năng mà một bên trong hợp đồng tín dụng không thực hiện nghĩa vụ của mình theo đúng những cam kết đã quy định trong hợp đồng. Nói chung, rủi ro tín dụng có nghĩa là các rủi ro có liên quan đến các sự kiện tín dụng như là về chất lượng tín dụng (bao gồm việc tăng hoặc giảm nhóm trong xếp hạng tín dụng), sự thay đổi của chênh lệch lợi suất tín dụng (là mức chênh lệch lợi suất giữa trái phiếu chính phủ Mỹ với khoản nợ có đảm bảo khác có cùng kỳ hạn nhưng chất lượng kém hơn) và các sự kiện vỡ nợ.
Theo Khan và cộng sự (2023) rủi ro tín dụng là khả năng một bên tham gia hợp đồng tín dụng sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. Nhìn chung, có nhiều định nghĩa khác nhau về rủi ro tín dụng, tuy nhiên có thể rút ra cách hiểu cơ bản về rủi ro tín dụng như sau: Rủi ro tín dụng là sự không chắc chắn về khả năng xảy ra tổn thất do bên có nghĩa vụ không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết trong hợp đồng tín dụng. Căn cứ Khoản 8 Điều 3 Thông tư 14/2023/TT-NHNN (có hiệu lực từ ngày 01/10/2024) quy định rủi ro tín dụng bao gồm: 9 (1) Rủi ro tín dụng là rủi ro do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng phi ngân hàng, trừ các trường hợp tại điểm (2). Trong đó, khách hàng (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có quan hệ với tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong việc nhận cấp tín dụng (bao gồm cả nhận cấp tín dụng thông qua ủy thác), nhận tiền gửi, phát hành trái phiếu doanh nghiệp; (2) Rủi ro tín dụng đối tác là rủi ro do đối tác không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phân hoặc toàn bộ nghĩa vụ thanh toán trước hoặc khi đến hạn của các giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính để phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác.
Trong đó, đối tác (bao gồm cả tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài) có giao dịch với tổ chức tín dụng phi ngân hàng trong các giao dịch tự doanh; giao dịch repo và giao dịch reverse repo; giao dịch sản phẩm phái sinh để phòng ngừa rủi ro; giao dịch mua bán ngoại tệ, tài sản tài chính để phục vụ nhu cầu của khách hàng, đối tác. Căn cứ Điều 19 Thông tư 14/2023/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải xây dựng chiến lược quản lý rủi ro tín dụng tối thiểu bao gồm các nội dung sau đây: - Tỷ lệ nợ xấu mục tiêu, tỷ lệ cấp tín dụng xấu mục tiêu. - Nguyên tắc xác định chi phí bù đắp rủi ro tín dụng trong phương pháp tính lãi suất, định giá sản phẩm tín dụng (pricing) theo mức độ rủi ro tín dụng của khách hàng. - Nguyên tắc áp dụng các biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng (bao gồm cả thẩm quyền phê duyệt các biện pháp giảm thiểu rủi ro tín dụng).
Quy định về hạn mức rủi ro tín dụng: Căn cứ Điều 20 Thông tư 14/2023/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng phi ngân hàng phải ban hành 10 hạn mức rủi ro tín dụng đảm bảo tuân thủ các quy định về các hạn chế để bảo đảm an toàn trong hoạt động của tổ chức tín dụng phi ngân hàng tại Luật Các tổ chức tín dụng và quy định của Ngân hàng Nhà nước. Hạn mức rủi ro tín dụng tối thiểu bao gồm các hạn mức sau đây: - Hạn mức cấp tín dụng đối với đối tượng khách hàng trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng; - Hạn mức cấp tín dụng theo sản phẩm. Hạn mức rủi ro tín dụng phải được rà soát, đánh giá lại (điều chỉnh nếu cần thiết) tối thiểu 01 năm một lần theo quy định nội bộ của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng Căn cứ Điều 23 Thông tư 14/2023/TT-NHNN quy định tổ chức tín dụng phi ngân hàng thực hiện phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng đảm bảo: - Thẩm quyền phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng phải được xác định theo các tiêu chí định lượng, định tính.
- Trường hợp phê duyệt theo cơ chế hội đồng, hội đồng phê duyệt phải có biên bản phê duyệt hoặc hình thức tương đương, trong đó nêu rõ lý do phê duyệt hoặc không phê duyệt và ghi nhận (hoặc đính kèm) ý kiến của các thành viên hội đồng. Thành viên hội đồng phê duyệt phải chịu trách nhiệm đối với quyết định của mình. - Thông tin cung cấp để phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng phải đầy đủ, phù hợp với quy mô, loại hình cấp tín dụng và quy định nội bộ của tổ chức tín dụng phi ngân hàng. Quy định về danh mục thông tin làm cơ sở để phê duyệt quyết định có rủi ro tín dụng phải được bộ phận quản lý rủi ro đánh giá đảm bảo thực hiện hiệu quả việc quản lý rủi ro tín dụng.2 Phân loại rủi ro tín dụng Hiện nay, có nhiều cách phân loại RRTD khác nhau tùy theo mục đích, yêu cầu nghiên cứu, thông thường có những cách phân loại như sau: - Theo nguồn gốc hình thành, RRTD được chia thành 3 loại: 11 - Rủi ro từ phía người cho vay: là những rủi ro từ chính sách của ngân hàng, việc nghiên cứu, dự báo, theo dõi, xử lý RRTD, cán bộ tín dụng, công tác kiểm tra, kiểm soát.
- Rủi ro từ phía người vay: Đây là loại rủi ro chủ yếu trong các loại RRTD, ví dụ: rủi ro vì khách hàng suy giảm khả năng trả nợ, rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng. - Rủi ro từ các nhân tố bên ngoài khác: Đó là các rủi ro liên quan tới các khâu quản lý của NHNN; chế độ chính sách; môi trường, các biến động bất thường trong nền kinh tế… - Theo tính khách quan và chủ quan thì RRTD được phân thành: - Rủi ro khách quan là rủi ro do các nguyên nhân khách quan như do môi trường kinh tế, chính trị xã hội, thiên tai, ốm đau bênh tật ảnh hưởng đến người đi vay làm thất thoát vốn vay.