Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bước sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) tiếp tục tạo ra những biến chuyển sâu sắc trong mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội. Đối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, KH&CN được xác định là quốc sách hàng đầu và là động lực then chốt thúc đẩy tăng trưởng. Trong bối cảnh đó, việc xây dựng một hệ thống thông tin KH&CN tiên tiến nhằm đáp ứng nhu cầu kết nối, trao đổi, chia sẻ dữ liệu và tri thức giữa các trường đại học, viện nghiên cứu và bệnh viện trở thành một đòi hỏi cấp thiết.
Các cơ sở đào tạo và nghiên cứu đòi hỏi hạ tầng mạng có băng thông lớn, tốc độ cao và độ ổn định vượt trội so với mạng Internet thương mại thông thường nhằm giải quyết các bài toán khoa học phức tạp, triển khai hội nghị truyền hình, tính toán lưới và đào tạo từ xa. Để đáp ứng nhu cầu này, Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (Vietnam Research and Education Network - VinaREN) đã được thành lập và kết nối vào hệ thống Mạng thông tin liên châu lục Á – Âu (Trans-Eurasia Information Network - TEIN). Tính đến thời điểm nghiên cứu, VinaREN đã kết nối 60 mạng thành viên tại 11 tỉnh, thành phố trong cả nước, liên kết trực tiếp với hơn 30 triệu nhà khoa học tại khu vực châu Á – Thái Bình Dương và châu Âu, mở ra cánh cửa kết nối tới 45 triệu đồng nghiệp tại hơn 8.000 trung tâm nghiên cứu trên thế giới.
Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Lê Thị Thúy (sinh viên lớp K52 Thông tin – Thư viện, khóa 2007 – 2011) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: "Tìm hiểu Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam – VINAREN (Vietnam Research and Education Network)", dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Đồng Đức Hùng.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể gồm ba nhiệm vụ:
- Giới thiệu tổng quan về Mạng VinaREN (quá trình hình thành, phát triển, cơ sở hạ tầng kỹ thuật, tài chính và các dịch vụ cơ bản).
- Tìm hiểu các ứng dụng thực tế và hiệu quả của mạng VinaREN trong hoạt động chuyên môn tại các viện nghiên cứu, bệnh viện và trường đại học.
- Phân tích chi tiết thực trạng ứng dụng mạng VinaREN tại ba cơ quan đại diện: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia, Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN) tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (đơn vị quản lý mạng trục), Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội và Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương.
- Phạm vi thời gian: Dữ liệu và thực trạng hoạt động được thu thập, phân tích từ tháng 6/2006 đến tháng 5/2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận được triển khai dựa trên khung pháp lý quản lý hoạt động thông tin KH&CN tại Việt Nam, bao gồm:
- Nghị định số 28/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ;
- Nghị định số 159/2004/NĐ-CP ngày 31/8/2004 của Chính phủ về hoạt động thông tin khoa học và công nghệ;
- Nghị định số 30/2006/NĐ-CP ngày 29/03/2006 của Chính phủ về thống kê khoa học và công nghệ;
- Các văn bản quy chuẩn kỹ thuật và Quy chế tạm thời về quản lý, khai thác và sử dụng mạng VinaREN do Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp các phương pháp nghiên cứu định tính và khảo sát thực tiễn ngành thông tin - thư viện:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, đối chiếu các văn kiện dự án TEIN2, TEIN3, báo cáo thường niên của Cục Thông tin KH&CN Quốc gia, tài liệu kỹ thuật hạ tầng mạng viễn thông và cơ sở dữ liệu học thuật.
- Phương pháp khảo sát thực tế: Quan sát trực tiếp hoạt động vận hành tại Trung tâm Vận hành Mạng Quốc gia (VNNOC) và các trung tâm mạng thành viên.
- Phương pháp phỏng vấn và trao đổi chuyên môn: Phỏng vấn cán bộ quản trị hệ thống, kỹ sư mạng viễn thông và cán bộ thư viện - thông tin tại các đơn vị thụ hưởng để ghi nhận phản hồi về chất lượng dịch vụ và vướng mắc kỹ thuật.
Nguồn dữ liệu của nghiên cứu bao gồm số liệu thống kê hoạt động mạng của VNNOC, thông số kỹ thuật đường truyền cáp quang, phân bổ dải địa chỉ IP, và hệ thống cơ sở dữ liệu chuyên ngành trực tuyến được Cục Thông tin KH&CN Quốc gia cung cấp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia với quá trình hình thành mạng VinaREN
Chương 1 khái quát chức năng, bộ máy tổ chức của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASATI) và tiến trình phát triển của mạng VinaREN gắn liền với sáng kiến quốc tế TEIN.
NASATI là cơ quan trực thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, tiền thân là Trung tâm Thông tin – Tư liệu KH&CN Quốc gia (thành lập ngày 24/09/1990 theo Quyết định số 487/TCCB trên cơ sở hợp nhất Thư viện Khoa học và Kỹ thuật Trung ương thành lập năm 1960 và Viện Thông tin Khoa học và Kỹ thuật Trung ương thành lập năm 1972). Cơ quan này có trên 160 cán bộ với 72% trình độ đại học trở lên, trong đó có 7 tiến sĩ (4,37%) và trên 20 thạc sĩ (trên 13%). NASATI đảm nhiệm các dịch vụ cốt lõi:
- Dịch vụ tra cứu, cung cấp tài liệu toàn văn (Document Delivery Service);
- Dịch vụ xử lý, phân tích thông tin chuyên đề và xây dựng cơ sở dữ liệu;
- Dịch vụ số hóa tài liệu quy mô công nghiệp với 2 máy quét chuyên dụng Kirtas 1600 (công suất đạt tới 1.600 trang/giờ, bảo toàn nguyên vẹn tài liệu gốc);
- Dịch vụ mạng thông tin khoa học công nghệ (VISTA - tiền thân là IDNET từ trước năm 1995, sau đổi thành VESTENET, được cấp phép ISP dùng riêng từ tháng 11/1998);
- Dịch vụ Bạn đọc đặc biệt (áp dụng mức phí 300.000 VNĐ/năm/bạn đọc vào năm 2011 để khai thác tài liệu trực tuyến có bản quyền).
Tiến trình hình thành và phát triển của mạng VinaREN gắn liền với ba giai đoạn của Mạng thông tin liên châu lục Á – Âu:
- TEIN (giai đoạn 1): Sáng kiến tại Hội nghị Thượng đỉnh Á – Âu lần 3 (ASEM 3, tháng 10/2000), kết nối thành công mạng nghiên cứu của Pháp và Hàn Quốc vào tháng 12/2001.
- TEIN 2 (2004 – 2008): Dự án do Ủy ban Châu Âu (EC) tài trợ 9,75 triệu Euro cùng sự đóng góp của Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore. Tại Việt Nam, Bộ KH&CN chủ trì triển khai kết nối đường truyền quốc tế qua nhà mạng Viettel.
- TEIN 3 (2008 – 2011): Khởi xướng tại ASEM 7 (Bắc Kinh, 2008) với tổng kinh phí tài trợ 12 triệu Euro từ EU, mở rộng quy mô lên 19 quốc gia thành viên.
VinaREN chính thức được khai trương trên toàn quốc tại Hội nghị Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam lần thứ 3 (27–28/3/2008 tại TP. Hồ Chí Minh), hoạt động dưới hình thức mạng viễn thông dùng riêng phi lợi nhuận (được cấp phép tháng 5/2008 và cấp bổ sung năm 2009). Cơ cấu tài trợ quốc tế cho kết nối quốc tế của VinaREN có sự chuyển dịch theo lộ trình giảm dần:
| Giai đoạn |
Thời gian |
Tỷ lệ tài trợ từ Liên minh Châu Âu (EU) |
Tỷ lệ đối ứng của Bộ Khoa học và Công nghệ |
| TEIN 2 |
05/2006 – 30/09/2008 |
80% |
20% |
| TEIN 3 (Đợt 1) |
01/10/2008 – 31/12/2010 |
70% |
30% |
| TEIN 3 (Đợt 2) |
01/01/2011 – 31/12/2011 |
60% |
40% |
| Sau 2011 |
Từ năm 2012 trở đi |
Giảm dần / Kết thúc |
Tự chi trả hoàn toàn hoặc tìm nguồn khác |
Số lượng thành viên của VinaREN tăng trưởng qua các năm: đầu năm 2008 có 44 thành viên, năm 2009 tăng thêm 12 thành viên (đạt 56 đơn vị) và đến đầu năm 2010 kết nạp thêm 4 đơn vị (Học viện Bưu chính Viễn thông, Bệnh viện Việt Đức, Khu Công nghệ Cao Hòa Lạc, Cục An toàn Bức xạ và Hạt nhân), nâng tổng số lên 60 thành viên chính thức.
Chương 2: Hạ tầng mạng và các dịch vụ cơ bản của VinaREN
Chương 2 mô tả chi tiết kiến trúc kỹ thuật, hạ tầng đường truyền và danh mục 8 dịch vụ ứng dụng cốt lõi của VinaREN.
Mạng trục quốc gia được xây dựng trên mô hình phân lớp tiêu chuẩn (Lớp lõi - Core, Lớp phân phối - Distribution, Lớp truy cập - Access) với 6 Trung tâm Vận hành Mạng (NOC): VNNOC (Hà Nội), NOC-TN (Thái Nguyên), NOC-HUE (Huế), NOC-DN (Đà Nẵng), NOC-HCM (TP. Hồ Chí Minh) và NOC-CT (Cần Thơ). Lớp lõi áp dụng cấu trúc kết nối lưới từng phần (Partial Mesh), trong đó ba trung tâm VNNOC, NOC-HCM và NOC-DN kết nối tam giác vững chắc. Tại Hà Nội, mạng kết nối theo cấu trúc vòng RING liên kết 3 điểm nút chính: VNNOC, POP-VAST (Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam) và POP-WRU (Trường Đại học Thủy lợi).
| Tuyến kết nối |
Băng thông |
Ghi chú kỹ thuật |
| Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh |
155 Mbps |
Kênh thuê riêng mạng trục chính |
| Hà Nội – Đà Nẵng |
45 Mbps |
Kênh thuê riêng mạng trục |
| Hà Nội – Thái Nguyên |
45 Mbps |
Kênh thuê riêng mạng trục |
| Đà Nẵng – Huế |
45 Mbps |
Kênh thuê riêng mạng trục |
| Đà Nẵng – TP. Hồ Chí Minh |
45 Mbps |
Tuyến dự phòng (backup) mạng trục |
| TP. Hồ Chí Minh – Cần Thơ |
45 Mbps |
Kênh thuê riêng mạng trục |
| Tuyến tới các tỉnh khác (Hải Phòng, Nghệ An, Nha Trang, An Giang, Lâm Đồng) |
20 Mbps |
Kênh thuê riêng viễn thông |
| Tuyến quốc tế Hà Nội – Hồng Kông (TEIN 3) |
155 Mbps |
Kênh trắng do PCCW cung cấp, Viettel thầu phụ trong nước |
| Cổng kết nối Internet trực tiếp |
40 Mbps |
Phục vụ truy cập nguồn tin điện tử |
| Kết nối mạng thành viên tới NOC/POP |
100 Mbps – 1 Gbps |
Cáp quang trực tiếp chuẩn Fast Ethernet / Gigabit Ethernet |
Trang thiết bị tại các NOC gồm các dòng định tuyến lõi Router Cisco 7609S, chuyển mạch trung tâm tích hợp các mô-đun an ninh như Firewall, IPS, IDS, NAM và VPN. Hệ thống quản trị trung tâm tại VNNOC vận hành các phần mềm chuyên dụng: CiscoWorks LMS 3.0 (giấy phép quản lý 300 thiết bị), Cisco Performance Visibility Manager 1.0, CiscoWorks QPM V4.0 (quản lý chất lượng dịch vụ QoS tập trung) và hệ thống giám sát tích hợp IMS.
Về tài nguyên địa chỉ mạng, VinaREN được cấp 32 dải địa chỉ IPv4 public lớp C, một số hiệu mạng độc lập (AS Number) và khối địa chỉ IPv6 2406:9000::/32 (chia nhỏ thành các dải /48 cấp phát cho các đơn vị thành viên).
Hệ thống cung cấp 8 nhóm dịch vụ ứng dụng:
- Dịch vụ IP, định tuyến và tên miền: Cấp phát tên miền cấp 3 theo cấu trúc
XXX.YYY.vinaren.vn (ví dụ: vngrid.vinaren.vn cho nhóm tính toán lưới).
- Dịch vụ IP Telephone: Cung cấp liên lạc thoại/fax miễn phí trên nền IP giữa các NOC/POP để phục vụ hỗ trợ kỹ thuật vận hành.
- Dịch vụ Video Conference và DVTS: Truyền hình chất lượng cao dựa trên hệ thống DVTS (Digital Video Transport System, yêu cầu băng thông từ 30 Mbps trở lên), ứng dụng trong hội thảo đa điểm và truyền hình trực tiếp phẫu thuật ngoại khoa (Bệnh viện Chợ Rẫy, Bệnh viện Trung ương Quân đội 108).
- Dịch vụ đào tạo từ xa (e-Learning): Tham gia dự án School of Internet và SOI-AI3 (Đại học Bách Khoa Hà Nội, VAST, ĐHQG Hà Nội); tổ chức bảo vệ đề cương và luận án sau đại học xuyên quốc gia; liên kết đào tạo với Đại học Tokyo (SINET), Đại học Quốc gia Seoul (KISDI), Đại học Bắc Kinh (CERNET).
- Dịch vụ tính toán lưới (Grid Computing): Thiết lập 5 nút tính toán hòa mạng siêu tính toán lưới châu Âu EGEE (Enabling Grids for E-sciencE) từ tháng 10/2009; phục vụ các đề tài mô phỏng cảnh báo cúm A/H5N1, tính toán máy gia tốc hạt lớn (LHC).
- Dịch vụ y tế từ xa (Telemedicine): Hội chẩn, chẩn đoán bệnh học, truyền hình phẫu thuật nội soi giữa các bệnh viện đầu ngành (Bệnh viện Nhi Trung ương, Việt Đức, Chợ Rẫy, Quân y 108, ĐH Y Hà Nội) với Bệnh viện Thượng Hải (Trung Quốc), Bệnh viện Nhi Hoàng gia Úc, Đại học Quốc tế Singapore (NUS).
- Dịch vụ dự báo thời tiết và cảnh báo thiên tai: Kết nối luồng dữ liệu thời gian thực từ Trung tâm Khí tượng Hoa Kỳ (
ftpprd.gov, tgftp.gov) và Canada (dd.ca) để chạy mô hình dự báo bão Biển Đông.
- Dịch vụ truy cập các cơ sở dữ liệu trực tuyến: Cung cấp quyền tra cứu hơn 15.000 tên tạp chí chuyên ngành quốc tế qua liên hợp thư viện.
Chương 3: Ứng dụng mạng VinaREN tại một số đơn vị thành viên và nhận xét, đánh giá
Chương 3 đi sâu phân tích việc khai thác thực tế mạng VinaREN tại ba cơ quan thành viên tiêu biểu:
1. Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia (NASATI):
NASATI vừa giữ vai trò cơ quan điều hành VNNOC, vừa là đơn vị cung cấp nguồn tài nguyên thông tin khoa học phong phú phục vụ toàn bộ các thành viên. Nguồn tài liệu được chia sẻ bao gồm:
- Nguồn tin trong nước: Cơ sở dữ liệu tài liệu KH&CN Việt Nam (STD) quy mô lớn nhất nước với hơn 120.000 biểu ghi trích xuất từ 300 tạp chí (trong đó có 45.000 biểu ghi đính kèm tệp PDF toàn văn) và hàng nghìn kỷ yếu hội thảo; Cơ sở dữ liệu Báo cáo kết quả nghiên cứu (KQNC) lưu giữ hàng chục nghìn đề tài nghiên cứu các cấp từ năm 1975 đến nay.
- Nguồn tin nước ngoài: Danh mục 10 cơ sở dữ liệu và thư viện số quốc tế giá trị cao:
| Tên nguồn tin |
Nhà xuất bản / Đơn vị cung cấp |
Quy mô dữ liệu và nội dung chính |
| IEEEXplore Digital Library |
Viện Kỹ sư Điện và Điện tử Hoa Kỳ (IEEE) |
Hơn 2,8 triệu tài liệu, 254 tạp chí, 1.172 tiêu chuẩn và 5.000 kỷ yếu hội thảo kỹ thuật |
| ScienceDirect |
Nhà xuất bản Elsevier |
Hơn 2.184 tạp chí điện tử, 6.000 sách chuyên khảo, hơn 9,1 triệu bài báo toàn văn |
| ISI - Web of Knowledge |
Thomson Reuters |
Hơn 8.600 tạp chí chỉ dẫn trích dẫn khoa học (6.100 tạp chí tự nhiên - kỹ thuật, 1.790 xã hội) |
| SpringerLink |
Nhà xuất bản Springer |
Hơn 2.000 tên tạp chí khoa học, công nghệ, y học và sách tra cứu |
| ProQuest Central |
ProQuest |
Hơn 11.000 tạp chí (hơn 8.000 tạp chí toàn văn), 30.000 luận văn, 15 nhật báo lớn của Mỹ |
| ACS Publications |
Hội Hóa học Hoa Kỳ (ACS) |
30 tạp chí đầu ngành hóa học, hơn 750.000 bài báo toàn văn tích lũy qua 130 năm |
| ASME Digital Library |
Hội Kỹ sư Cơ khí Hoa Kỳ (ASME) |
Toàn bộ tạp chí giao dịch từ năm 1990, kỷ yếu hội nghị từ 2002 và sách chuyên ngành từ 1999 |
| AIP Journals |
Viện Vật lý Hoa Kỳ (AIP) |
Các tạp chí hàng đầu về vật lý ứng dụng, vật lý hạt nhân, hóa lý và khoa học vật liệu |
| APS Journals |
Hội Vật lý Hoa Kỳ (APS) |
Hệ thống tạp chí uy tín (Physical Review Letters, Reviews of Modern Physics) từ năm 1893 |
| Ebrary |
Ebrary |
Hơn 36.000 đầu sách điện tử đa ngành toàn văn (yêu cầu phần mềm Ebrary Reader) |
2. Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội:
Trường sở hữu mạng nội bộ Bknet phục vụ hơn 40.000 sinh viên, 2.500 cán bộ, giảng viên với 4.000 nút mạng. Trung tâm Mạng Thông tin (BKNIC) đã tích hợp kết nối VinaREN/TEIN3 băng thông 100 Mbps cùng với 2 đường NIX (100 Mbps/đường bổ sung từ tháng 1/2009), 2 đường leased-line Internet 8 Mbps và 1 đường ADSL 4 Mbps. Hệ thống được cấp 4 dải IP thương mại IPv4 và 2 lớp địa chỉ IPv6. Trường đã ứng dụng đường truyền băng thông lớn để khai thác kho phần mềm nguồn mở SourceForge, tổ chức bảo vệ đề cương và luận án tiến sĩ trực tuyến với Viện Công nghệ Shibaura (Nhật Bản) và Đại học Marseille (Pháp), đồng thời phối hợp với NOC Đà Nẵng mở các khóa tập huấn an ninh mạng.
3. Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn Trung ương:
Ứng dụng đường truyền tốc độ cao để kết nối tự động tới các máy chủ khí tượng toàn cầu tại Mỹ và Canada, thu nhận dữ liệu viễn thám phục vụ tính toán mô hình dự báo bão và thiên tai tại Biển Đông.
Nhận xét, đánh giá chung và nhóm giải pháp đề xuất:
Tác giả đánh giá VinaREN đã tạo ra bước đột phá về hạ tầng nghiên cứu học thuật tại Việt Nam, tuy nhiên còn bộc lộ một số tồn tại: đường truyền tra cứu cơ sở dữ liệu có thời điểm bị nghẽn; việc duy trì nguồn điện liên tục cho các NOC/POP gặp khó khăn trước tình trạng cắt điện lưới kéo dài trong năm 2010; công tác thi công ngầm hóa cáp viễn thông đô thị gây gián đoạn cục bộ. Tác giả đề xuất các nhóm giải pháp:
- Đảm bảo nguồn điện dự phòng công suất lớn và hệ thống ắc quy ổn định cho các NOC;
- Nâng cấp băng thông các tuyến mạng trục nội địa và quốc tế;
- Xây dựng cơ chế tài chính chuyển đổi dần sang mô hình mạng tự quản, thu phí dịch vụ hợp lý từ các đơn vị thành viên để bù đắp kinh phí khi nguồn tài trợ từ Liên minh Châu Âu giảm dần;
- Tăng cường đào tạo nguồn nhân lực quản trị mạng (chương trình định tuyến, chuyển mạch, bảo mật ngắn hạn 2–4 tuần cho kỹ sư các NOC).
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã hệ thống hóa toàn diện quá trình ra đời, cấu trúc tổ chức và hiện trạng vận hành kỹ thuật của Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam trong giai đoạn 2006 – 2011.
Các kết quả và số liệu cụ thể được ghi nhận bao gồm:
- Làm rõ cấu trúc phân bổ của 6 NOC và hệ số băng thông mạng trục quốc gia (155 Mbps tuyến Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh; 45 Mbps cho các phân đoạn khu vực; kênh quốc tế TEIN3 đạt 155 Mbps);
- Thống kê chi tiết tài nguyên 32 dải địa chỉ IPv4 lớp C và khối IPv6
2406:9000::/32 được quản lý bởi VNNOC;
- Tổng hợp danh mục dữ liệu học thuật quy mô lớn gồm hơn 120.000 biểu ghi STD trong nước và 10 cơ sở dữ liệu quốc tế trực tuyến với hàng chục triệu bài báo toàn văn;
- Khái quát bức tranh ứng dụng mạng VinaREN trong các lĩnh vực chuyên sâu: tính toán lưới EGEE, đào tạo từ xa liên đại học (SOI-AI3), y tế từ xa (Telemedicine với Singapore, Úc, Trung Quốc) và mô phỏng khí tượng thủy văn.
Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp một tài liệu nghiên cứu hệ thống đầu tiên dưới góc độ ngành Thông tin – Thư viện về mô hình mạng nghiên cứu chuyên dùng quy mô lớn nhất Việt Nam, đồng thời đưa ra các đề xuất thiết thực nhằm hoàn thiện cơ chế tài chính và vận hành kỹ thuật của VinaREN trong giai đoạn kết thúc tài trợ quốc tế.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với điều kiện thực hiện tại thời điểm năm 2011:
- Dữ liệu khảo sát ứng dụng thực tế mới chỉ tập trung sâu vào 3 đơn vị trọng điểm tại khu vực Hà Nội (NASATI, ĐHBK Hà Nội, Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương), chưa phản ánh hết mức độ khai thác tại các viện nghiên cứu và trường đại học ở miền Trung và miền Nam.
- Khóa luận chưa đi sâu phân tích các khía cạnh thuật toán định tuyến phức tạp hoặc đo lường định lượng chi tiết về lưu lượng gói tin (traffic monitoring) do giới hạn chuyên ngành Thông tin – Thư viện.
Hướng nghiên cứu mở rộng được gợi mở bao gồm: khảo sát mở rộng hiệu quả ứng dụng VinaREN tại toàn bộ 60 đơn vị thành viên trên cả nước; đánh giá tác động của việc chuyển đổi hoàn toàn sang giao thức IPv6 đối với hạ tầng mạng nghiên cứu; và nghiên cứu giải pháp xây dựng liên hợp thư viện số dùng chung dựa trên nền tảng tính toán lưới và điện toán đám mây.
Giá trị tham khảo
Khóa luận là nguồn tài liệu hữu ích cho:
- Sinh viên và giảng viên ngành Thông tin – Thư viện, Quản trị Thông tin: Tham khảo cách thức tổ chức, chia sẻ và phân phối các nguồn tin điện tử khoa học công nghệ quy mô quốc gia và quốc tế.
- Cán bộ quản lý KH&CN và quản trị mạng tại các viện, trường, bệnh viện: Nghiên cứu kinh nghiệm thiết lập hạ tầng mạng chuyên dùng (NREN), cấu hình QoS cho hội nghị truyền hình/DVTS, và các mô hình hợp tác chia sẻ tài nguyên tính toán.
- Người làm đề tài nghiên cứu về hạ tầng thông tin khoa học: Sử dụng các bảng dữ liệu về phân bổ IP, băng thông mạng trục và danh mục cơ sở dữ liệu giai đoạn 2006 – 2011 làm dữ liệu lịch sử đối chiếu.
Câu hỏi thường gặp
1. Mạng VinaREN được chính thức khai trương và cấp phép hoạt động vào thời gian nào?
VinaREN được chính thức khai trương trên toàn quốc tại Hội nghị Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam lần thứ 3 diễn ra từ ngày 27 đến 28 tháng 3 năm 2008 tại TP. Hồ Chí Minh. Mạng được Nhà nước cấp giấy phép hoạt động mạng viễn thông dùng riêng vào tháng 5 năm 2008 và cấp giấy phép bổ sung vào năm 2009.
2. Lộ trình tài trợ kinh phí kết nối quốc tế từ Liên minh Châu Âu (EU) cho VinaREN qua các dự án TEIN diễn ra như thế nào?
Trong giai đoạn TEIN 2 (5/2006 – 30/9/2008), EU tài trợ 80% kinh phí đường truyền kết nối quốc tế Hà Nội – Hồng Kông, Bộ KH&CN đóng góp 20%. Sang giai đoạn TEIN 3, từ 1/10/2008 đến 31/12/2010, EU tài trợ 70% (Việt Nam đối ứng 30%); từ 1/1/2011 đến 31/12/2011, mức tài trợ của EU giảm xuống 60% (Việt Nam đối ứng 40%). Từ năm 2012, phía Việt Nam phải tự chi trả nhiều hơn và tiến tới chi trả toàn bộ chi phí kết nối quốc tế.
3. Hạ tầng mạng trục quốc gia của VinaREN gồm bao nhiêu trung tâm vận hành và cấu hình băng thông giữa các điểm ra sao?
Hạ tầng mạng trục gồm 6 NOC đặt tại Hà Nội (VNNOC), Thái Nguyên, Huế, Đà Nẵng, TP. Hồ Chí Minh và Cần Thơ. Tuyến Hà Nội – TP. Hồ Chí Minh có băng thông 155 Mbps; các tuyến Hà Nội – Đà Nẵng, Hà Nội – Thái Nguyên, Đà Nẵng – Huế, Đà Nẵng – TP. Hồ Chí Minh (tuyến dự phòng) và TP. Hồ Chí Minh – Cần Thơ đều đạt 45 Mbps; kết nối đến các tỉnh khác là 20 Mbps; kết nối quốc tế TEIN 3 đạt 155 Mbps và kết nối Internet là 40 Mbps.
4. Dịch vụ DVTS trên mạng VinaREN là gì và đã được ứng dụng trong lĩnh vực nào?
DVTS (Digital Video Transport System) là dịch vụ truyền hình chất lượng cao trên mạng đòi hỏi băng thông từ 30 Mbps trở lên với ưu điểm chi phí thiết bị đầu cuối hợp lý nhưng mang lại độ nét và độ trễ thấp. Dịch vụ này đã được triển khai hiệu quả trong lĩnh vực y tế từ xa (Telemedicine) tại Bệnh viện Chợ Rẫy và Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 để truyền hình trực tiếp các ca phẫu thuật nội soi và hội thảo tư vấn khám chữa bệnh.
5. Cơ sở dữ liệu khoa học công nghệ trong nước nào của NASATI có quy mô lớn nhất được chia sẻ qua VinaREN?
Đó là Cơ sở dữ liệu tài liệu KH&CN Việt Nam (STD) với quy mô hơn 120.000 biểu ghi trích xuất từ khoảng 300 tạp chí KH&CN trong nước, trong đó có 45.000 biểu ghi đính kèm tài liệu toàn văn dạng PDF được cập nhật hàng tuần và hàng nghìn kỷ yếu hội thảo khoa học đa ngành.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Thúy đã phản ánh một cách chân thực, có hệ thống quá trình hình thành, hạ tầng kỹ thuật và thực tiễn khai thác Mạng Nghiên cứu và Đào tạo Việt Nam (VinaREN) trong giai đoạn 2006 – 2011. Công trình làm nổi bật vai trò của Cục Thông tin Khoa học và Công nghệ Quốc gia trong việc kết nối cộng đồng khoa học trong nước với xa lộ thông tin học thuật toàn cầu TEIN. Các dữ liệu, số liệu và phân tích trường hợp điển hình tại NASATI, Đại học Bách Khoa Hà Nội và Trung tâm Dự báo KTTV Trung ương mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu, quản trị thông tin và phát triển mạng chuyên dùng học thuật tại Việt Nam.