CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ LOGISTIC 1.1 Các khái niệm cơ bản Theo Hội đồng quản trị logistics Hoa Kỳ (LAC- The US. Logistics Administration Council): “Logistics là quá trình lập kế hoạch, thực hiện và kiểm soát dòng di chuyển và lưu kho những nguyên vật liệu thô của hàng hóa trong quy trình, những hàng hóa thành phẩm và những thông tin liên quan từ khâu mua sắm nguyên vật liệu đến khi được tiêu dùng, nhằm thỏa mãn yêu cầu của người tiêu dùng”. Có thể hiểu đơn giản, Logistics là một chuỗi nhiều hoạt động xoay quanh hàng hóa như: đóng gói, bao bì, lưu trữ hàng hóa, kho bãi, bảo quản, vận chuyển hàng hóa… Các doanh nghiệp có thể tiết kiệm được đáng kể khoản chi phí vận chuyển, tránh việc “đội giá” sản phẩm và tăng mức lợi nhuận thu được nếu thực thi hoạt động Logistics hiệu quả. Bất kỳ một doanh nghiệp sản xuất nào cũng phải quan tâm và có chiến lược Logistic phù hợp.
Một chiến lược Logistic tốt sẽ giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, công sức và tiền bạc hiệu quả. Ngày nay, Logistics cũng là một trong những điểm mạnh, giúp phát huy lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp. Bài toán kho bãi kết hợp với những phương tiện vận tải đường bộ, đường hàng không, đường sắt,… làm hao tổn không ít bộ não của công ty. Chính vì thế, những dịch vụ Logistics ra đời với sự chuyên nghiệp và giải pháp Logistics thông minh sẽ là đối tác cực kỳ hữu ích cho doanh nghiệp.
Các hoạt động của Logistics bao gồm: Dịch vụ khách hàng Dự báo nhu cầu Thông tin trong phân phối Kiểm soát lưu kho Vận chuyển nguyên vật liệu Quản lý quá trình đặt hàng Lựa chọn địa điểm nhà máy và kho Thu gom hàng hóa Đóng gói, xếp dỡ hàng Phân loại hàng hóa 9 1.2 Phân loại logistic 1. Phân loại theo hình thức Logistics được chia làm 5 loại: - Logistics bên thứ nhất (1PL - First Party Logistics): Chủ sở hữu hàng hóa tự mình tổ chức và thực hiện các hoạt động Logistics để đáp ứng nhu cầu của bản thân, chủ hàng sẽ tự đầu tư vào phương tiện vận tải, kho bãi, nhân công,. Để quản lí và vận hành hoạt động logistics. Hình thức này làm giảm hiệu quả kinh doanh của phần lớn doanh nghiệp vì họ không đủ kỹ năng, kinh nghiệm cũng như chuyên môn trong quản lý và vận hành hệ thống.
- Logistics bên thứ 2 (2PL - Second Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ logistics bên thứ 2 sẽ cung cấp dịch vụ cho các hoạt động đơn lẻ trong dây chuyền logistics như vận tải, lưu kho bãi, thanh toán, mua bảo hiểm. 2PL chưa tích hợp các hoạt đông đơn lẻ thành chuỗi cung ứng đồng nhất. Ví dụ như: Người xuất khẩu không tự thông quan xuất khẩu hoặc không tự thuê tàu,. Người xuất khẩu liên hệ người chuyên chở , ủy quyền cho công ty thuê tàu đó thì mối quan hệ giữa người xuất khẩu và công ty dịch vụ hải quan (có thể bao gồm nhiều chức năng khác nhau) gọi là 2PL.
- Logistics bên thứ 3 (3PL - Third Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ sẽ thay mặt chủ hàng quản lý và thực hiện các dịch vụ logistics cho từng bộ phận. 3PL bao gồm nhiều dịch vụ khác nhau, kết hợp chặt chẽ việc luân chuyển, tồn trữ hàng hóa, xử lý thông tin,. và có tính tích hợp vào dây chuyền cung ứng của khách hàng. Nên nhớ 3 là mối quan hệ có 3 đối tượng mang tính di truyền.
Ví dụ: Người xuất khẩu đi tìm người thuê tàu và theo yêu cầu của người xuất khẩu với người thuê tàu thì có thêm phần thông quan xuất khẩu, khi đó nếu người thuê tàu không thể tự đáp ứng thì người thuê tàu sẽ đi tìm người làm thông quan xuất khẩu. Vậy ở đây là mối quan hệ 3PL mang tính di truyền, người xuất khẩu thường không biết người thông quan xuất khẩu thật sự cho mình. Nên chú ý, ví dụ trong trường hợp này, người xuất khẩu đi tìm người làm hải quan và người xuất khẩu đi tìm người thuê tàu cho mình thì sẽ xuất hiện 2 mối quan hệ 2PL, thứ nhất là giữa người xuất khẩu với người thuê 10 tàu, thứ 2 là người xuất khẩu với người thông quan xuất khẩu; chứ không có mối quan hệ 3PL ở đây. - Logistics bên thứ 4 (4PL - Fourth Party Logistics): Người cung cấp dịch vụ là người tích hợp (intergrator), gắn kết các nguồn lực, tiềm năng và cơ sở vật chất khoa học kỹ thuật của mình và các tổ chức khác để thiết kế, xây dựng và vận hành các giải pháp chuỗi logistics.
4PL hướng đến quản lý cả quá trình logistics. - Logistics bên thứ 5 (Fifth Party Logistics):Được đề cập đến trong lĩnh vực thương mại điện tử, các nhà cung cấp dịch vụ logistics cung cấp dịch vụ trên cơ sở nền tảng là thương mại điện tử.2 Phân loại theo quá trình Logistics đầu vào( inbound Logistics) Là các dịch vụ được đảm bảo cung ứng đầu vào đảm bảo cả về mặt giá trị và về mặt thời gian cho quá trình sản xuất. Logistics đầu ra( Inbound logistics) Là các dịch vụ cung cấp đến tay người tiêu dùng một cách tối ưu về cả giá trị thời gian và chi phí để đem lại lợi nhuận tối đa cho doanh nghiệp Logistics ngược (Resve logistics) Là các dịch vụ được cung ứng đảm bảo cho quá trình thu hồi phế phẩm, phế liệu, … các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường phát sinh từ môi trường sản xuất hoặc phân phối,hoặc tiêu dùng trở về để tái xử lí Bảng 1.Phân loại Logistic theo quá trình 11 1.3 Logistic và chuỗi cung ứng 1.1 Định nghĩa Định nghĩa quản lý chuỗi vận chuyển (Logistics Management) Quy trình quản lý tích hợp sự chuyển động của hàng hóa, dịch vụ, thông tin và vốn, ngay từ khi tìm nguồn cung ứng nguyên liệu thô, cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng được gọi là quản lý chuỗi vận chuyển.Mục tiêu đằng sau quá trình này là cung cấp đúng sản phẩm với chất lượng phù hợp vào đúng thời điểm, đúng nơi, đúng giá với khách hàng cuối cùng.Các hoạt động logistic được chia thành hai loại chính là: - Logistics bên trong :Các hoạt động liên quan đến mua sắm vật liệu, xử lý, lưu trữ và vận chuyển - Logistics bên ngoài :Các hoạt động liên quan đến việc thu thập, bảo trì và phân phối hoặc giao hàng cho người tiêu dùng cuối cùng. Ngoài ra, các hoạt động khác là nhập kho, đóng gói, thực hiện đơn hàng, kiểm soát hàng tồn kho, duy trì trạng thái cân bằng giữa cung và cầu, quản lý kho.Điều này sẽ giúp tiết kiệm chi phí và thời gian, sản phẩm chất lượng cao,… Định nghĩa quản lý chuỗi cung ứng ( Supply Chain Management ) Quản lý chuỗi cung ứng (SCM) là một chuỗi các hoạt động được kết nối với nhau liên quan đến việc lưu thông và chuyển đổi nguyên liệu thô thành hàng hóa thành phẩm cho đến khi đến tay người dùng cuối.Đó là kết quả từ những nỗ lực của nhiều tổ chức đã giúp làm cho chuỗi hoạt động này thành công.
Các tổ chức này có thể bao gồm các công ty mà tổ chức hiện đang làm việc như đối tác hoặc nhà cung cấp, nhà sản xuất, nhà bán buôn, nhà bán lẻ và người tiêu dùng.Các hoạt động có thể bao gồm việc triển khai, tìm nguồn cung ứng, mua sắm, sản xuất, thử nghiệm, hậu cần, dịch vụ khách hàng, đo lường hiệu suất, … Quản lý chuỗi cung ứng có cách tiếp cận đa chiều, quản lý dòng nguyên liệu thô và công việc đang tiến hành (bán thành phẩm) trong tổ chức và sản phẩm cuối cùng bên ngoài tổ chức cho đến khi đến tay người tiêu dùng cuối cùng, hoàn toàn tập trung vào việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng.2 Sự khác biệt giữa Logistics và chuỗi cung ứng Cơ sở để so sánh Quản lý chuỗi vận chuyển Quản lý chuỗi cung ứng Quá trình tích hợp việc lưu thông Sự phối hợp và quản lý các hoạt Định nghĩa và bảo quản hàng hóa trong và động của chuỗi cung ứng được ngoài tổ chức là logistics. gọi là quản lý chuỗi cung ứng. Mục tiêu Sự hài lòng của khách hàng Lợi thế cạnh tranh Khái niệm về Logistics đã được Quản lý chuỗi cung ứng là một Sự phát triển phát triển trước đó. khái niệm hiện đại.
Có bao nhiêu tổ chức có liên Một Nhiều quan? Tác động qua lại Quản lý chuỗi vận chuyển chính Quản lý chuỗi cung ứng là phiên là một phần của quản lý chuỗi bản mới của quản lý chuỗi vận với nhau cung ứng.So sánh Logistics và Chuỗi cung ứng 1.3 Vai trò của chuỗi cung ứng 13 Chuỗi cung ứng có tốt hay không ảnh hưởng trực tiếp tới các hoạt động sản xuất và kinh doanh của doanh nghiệp.Bởi nên, việc quản trị chuỗi cung ứng càng quan trọng.Nếu mà quản trị chuỗi cung ứng tốt thì sẽ giúp doanh nghiệp có lợi thế cạnh tranh,có chỗ đứng trên thị trường.Đồng thời, chúng sẽ tạo điều kiện để có thể mở rộng chiến lược và phát triển doanh nghiệp tốt hơn. Hoạt động quản trị tốt sẽ bảo đảm được đầu vào, đầu ra của hàng hóa.Ở đầu vào, cung ứng đúng, đủ lượng hàng hóa và giảm lượng hàng tồn kho đồng thời giảm được các rủi ro cho doanh nghiệp. Ở đầu ra các chuỗi cung ứng quản lý tốt sản phẩm, cung cấp đủ chất lượng của sản phẩm cần thiết, đem đến doanh thu tốt, giảm nguy cơ hàng quay đầu, giảm chi phí hàng tồn. Bên cạnh đó, quản trị chuỗi cung ứng tốt còn đem đến hiệu quả về hoạt động logistics, hậu cần.Đưa hàng hóa tới tay các doanh nghiệp và khách hàng nhanh chóng, đúng tiến độ và đảm bảo được chất lượng hàng hóa, tối ưu hóa chi phí và lợi nhuận cho các doanh nghiệp.
Nói tóm lại, quản trị chuỗi cung ứng sẽ đem tới những lợi ích cụ thể như: - Giảm tải chi phí chuỗi cung ứng SCM tới 25- 50%. - Giảm tải lượng hàng tồn kho tới 25 – 60%. - Cải thiện được vòng cung ứng đơn hàng tốt hơn 30 – 50%. - Tăng độ chính xác trong dự báo sản xuất cao hơn đến 25 – 80%.
- Tăng lợi nhuận sau thuế hơn 21%. Một chuỗi cung ứng hoàn hảo sẽ giúp doanh nghiệp có thêm nhiều lợi thế trong kinh doanh và tối đa hóa chi phí, tăng lợi nhuận cao hơn.Nhất là trong các bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa, các doanh nghiệp quyết định tự cung tự cấp và tự làm mọi thứ để có thể kinh doanh thì sẽ không đạt hiệu quả cao nhất. Thậm chí việc tự túc toàn bộ có thể sẽ khiến doanh nghiệp sa vào vực thẳm bởi chi phí chia cho nhiều bộ phận.