chương 1, tôi đã đề cập đến các vấn đề sau: - Tìm hiểu lịch sử nghiên cứu đề tài về năng lực giải quyết vấn đề, về đánh giá năng lực giải quyết vấn đề và về bài toán thực tiễn ở Việt Nam và rên thế giới. Trên cơ sở đó, chúng tôi thu thập được một số thông tin, có nhiều dẫn chứng làm tài liệu nghiên cứu kĩ hơn, có khoa học và mang tính xác thực về đề tài của tôi. 7 CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2. Đặc điểm tâm lý của học sinh tiểu học Đối tượng của cấp tiểu học là trẻ em từ 6 đến 11 tuổi.
Học sinh tiểu học là một thực thể hồn nhiên, ngây thơ và trong sáng. Ở mỗi trẻ em tiềm tàng khả năng phát triển về trí tuệ, lao động, rèn luyện và hoạt động xã hội để đạt một trình độ nhất định về lao động nghề nghiệp, về quan hệ giao lưu và chăm lo cuộc sống cá nhân, gia đình. Đặc điểm hoạt động học tập của học sinh tiểu học Hoạt động học là hoạt động xuất hiện đầu tiên trong đời sống của trẻ em. Các em xuất hiện nhu cầu tìm hiểu, giải thích và lĩnh hội tri thức khoa học, để lĩnh hội được các tri trức ấy các em phải tập trung chú ý, tuân theo nguyên tắc kỉ cương và nghiêm túc.
Hoạt động học của HSTH nảy sinh trong lòng hoạt động vui chơi. Hoạt động học tập được hình thành và phát triển nhờ tổ chức theo phương pháp học trong nhà trường, HS nắm được các tri thức khoa học, kĩ năng, kĩ xảo, là cơ sở để hình thành năng lực cho các em, là hình thức dạy thầy tổ chức, trò hoạt động. Vai trò chủ đạo của hoạt động học tập chỉ tồn tại một cách đầy đủ nhất trong thời kỳ nó bắt đầu được hình thành. Lứa tuổi HSTH chính là giai đoạn mà hoạt động học tập hình thành một cách tích cực nhất.Đặc điểm các quá trình nhận thức của học sinh tiểu học 2.
Tri giác Tri giác của HS tiểu học phát triển trong quá trình học tập. Sự phát triển này diễn ra theo hướng ngày càng chính xác hơn, đầy đủ hơn, phân hóa rõ ràng hơn, có chọn lọc hơn. Vì vậy, học sinh các lớp cuối cấp học đã biết tìm ra các dấu hiệu đặc trưng của đối tượng, biết phân biệt sắc thái của các chi tiết để đến phân tích, tổng hợp và tìm ra mối liên hệ giữa chúng. Tri giác ở đây, đã mang tính mục đích và có phương hướng rõ ràng.
Trong sự phát triển tri giác của HS tiểu học, vai trò của người GV rất lớn. Họ không chỉ là người dạy trẻ kĩ năng nhìn mà còn hướng dẫn các em xem xét; không chỉ dạy trẻ em nghe mà còn dạy trẻ biết lắng nghe; không chỉ cho trẻ nhận biết hay gọi tên đối tượng mà còn dạy trẻ biết phát hiện ra những thuộc tính bản chất của đối tượng. Tư duy Trừu tượng hóa và khái quát hóa là những thao tác khó đối với HS tiểu học. Bởi kĩ năng phân biệt các dấu hiệu và lấy ra các thuộc tính bản chất chưa có sẵn ở HS tiểu học mà sẽ được hình thành dần.
Trên cơ sở này, HS biết phân loại và phân hạng trong nhận thức. Đó là khả năng phân chia các cá thể vào các lớp căn cứ vào dấu hiệu chung cũng như sự biến thiên của các dấu hiệu. Tưởng tượng Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng. Tưởng tượng của HS nếu phát triển không đầy đủ thì nhất định sẽ gặp khó khăn trong việc học tập, đặc biệt là đối với môn Toán.
Tưởng tượng của HS tiểu học hình thành và phát triển trong hoạt động học tập và các hoạt động khác. Tưởng tượng tái tạo từng bước được hoàn thiện gắn liền với những hình tượng đã tri giác trước… Vì vậy, trong quá trình dạy học, GV cần chú ý hình thành tưởng tượng qua sự mô tả bằng lời, thêm vào đó là đồ dùng dạy học. Cùng với sự trọn vẹn, hình ảnh tưởng tượng của trẻ cũng ngày càng trở nên phân biệt hơn. Ở những lớp sau cấp tiểu học thì các yếu tố, chi tiết thừa trong hình ảnh càng giảm và hình ảnh càng được gọt giũa hơn, tinh giản hơn, nên mạch lạc hơn và sát thực hơn.
Điều này được quy định bởi sự tham gia của tính có chủ định, của tư duy và ngôn ngữ vào quá trình tưởng tượng của các em. Trí nhớ Trí nhớ của HS tiểu học vẫn mang tính trực quan hình tượng hơn trí nhớ từ ngữ, lôgic. Các lớp đầu cấp tiểu học, khả năng ghi nhớ có ý nghĩa và ghi nhớ từ ngữ của các em dần được tăng cường, ghi nhớ có chủ định, ghi nhớ theo khả năng suy luận bắt đầu giữ vai trò chủ đạo. Tuy nhiên, hiệu quả của việc ghi nhớ có chủ định cũng phụ thuộc vào nhiều yếu tố như mức độ tích cực tập trung trí tuệ của các em, sức hấp dẫn của nội dung tài liệu, yếu tố tâm lý tình cảm hay hứng thú của các em.
Chú ý Chú ý có chủ định của HSTH còn yếu, khả năng điều chỉnh chú ý chưa mạnh. Chú ý không chủ định được phát triển mạnh, những gì mang tính chất mới mẻ, bất ngờ, độc đáo. dễ thu hút được sự chú ý của các em. Chính vì vậy trong khi giảng dạy, GV cần tìm những điểm mới lạ, ít gặp, những đồ dùng dạy học ít gặp.
sẽ thu hút được cảm 9 xúc tích cực ở các em và sự chú ý của HS đối với việc thực hiện những hành động bên ngoài thường bền vững hơn sự chú ý đối với việc thực hiện các hành động trí tuệ. Ngôn ngữ Vốn từ của các em tăng lên một cách đáng kể do được học nhiều môn và phạm vi tiếp xúc được mở rộng. Khả năng hiểu nghĩa của từ cũng phát triển: từ chỗ hiểu một cách cụ thể, cảm tính đến hiểu khái quát và trừu tượng nghĩa của từ. Tuy nhiên, trẻ thường hiểu nghĩa của từ gắn với nội dung cụ thể của bài khóa.
Việc hiểu nghĩa bóng của từ còn khó khăn đối với trẻ (khi giải nghĩa từ “mặc niệm”, trẻ thường gắn với hình ảnh cụ thể của những người đang ở tư thế mặc niệm (đứng yên, cúi đầu) mà chưa hiểu được nội dung (tưởng nhớ người đã khuất). Các em đã được một số quy tắc ngữ pháp cơ bản nhưng việc vận dụng vào ngôn ngữ nói và viết chưa thuần thục nên còn phạm nhiều lỗi, nhất là khi viết. Trên cơ sở của sự phát triển những mặt trên, kĩ năng đọc của trẻ được hoàn thiện. Trong suốt quá trình học ở tiểu học, kĩ năng đọc của trẻ chuyển từ đọc đánh vần sang đọc diễn cảm, đọc to với đọc cho mình,… Tuy nhiên, trẻ vẫn gặp khó khăn khi đọc hiểu.
Một mặt, vì ở đây, không có sự hỗ trợ của các biểu hiện bên ngoài của ngôn ngữ: ngữ điệu, vẻ mặt,… Mặt khác, do trẻ chưa hiểu được các thủ thuật: từ nhấn mạnh, dấu biểu cảm, trật tự từ,… 2. Cấu trúc chương trình toán lớp 1 hiện hành và toán lớp 1 theo chương trình GDPT mới Bảng 1. So sánh chương trình môn Toán lớp 1 mới với chương trình hiện hành - Về thời lượng: Chương trình mới Chương trình hiện hành Mỗi tuần 3 tiết Mỗi tuần 4 tiết Cả năm (35 tuần): 105 tiết Cả năm (35 tuần): 140 tiết - Về nội dung: Chương trình mới Chương trình hiện hành SỐ VÀ PHÉP TÍNH SỐ HỌC 10 Đếm, đọc, Đếm, đọc, viết các số viết các số trong phạm vi 100 trong phạm vi 100 Số tự Số tự nhiên So sánh các nhiên So sánh các số trong số trong phạm vi 100 phạm vi 100 Phép cộ Phép cộng, phép trừ phép trừ ng , Các phép Tính nhẩm Các phép tính Tính nhẩm tính với với số tự nhiên Thực hành giải quyết Luyện tậ số tự vấn đề liên quan đến Luyện p, nhiên các phép tính cộng, chung tậ trừ p HÌNH HỌC VÀ ĐO LƯỜNG YẾU TỐ HÌNH HỌC Giới thiệu về điểm, đoạn thẳng, hình Quan sát, nhận biết Hình v vuông, hình hình dạng của một số Hình phẳng phẳg à tròn, hình hình phẳng và hình hình tam giác. khối đơn giản khối Cách nhận biết điểm nằm bên ngoài hoặc nằm bên trong của 11 một hình.
Thực hành vẽ, cắt, ghép một hình đã Thực hành lắp ghép, học biểu xếp hình gắn với một diễn trên số hình phẳng và hình giấy kẻ ô khối đơn giản vuông ĐẠI LƯỢNG VÀ ĐO ĐẠI LƯỢNG Giới thiệu đơn vị đo khoảng cách, độ dài xăng – ti – mét. Giới thiệu đơn 12 vị đo thời Biểu tượng về đại gian: phút, lượng và đơn vị đo đại giờ, ngày, lượng tuần, Đại lượng đo tháng…Làm Đo lường và ứng quen với lường cách dụng đọc lịch, tính ngày, tính giờ trên đồng hồ. Thực hành đo độ dài của một vật đơn giản. Vẽ Thực hành đo đại độ lượng dài cho trước.
Cách ước lượng độ dài theo đơn vị xăng – ti – mét. GIẢI BÀI TOÁN CÓ LỜI VĂN 13 Thực hiện giải toán có lời văn bằng cách sử dụng một phép tính đơn giản. HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH VÀ TRẢI NGHIỆM Nhà trường tổ chức cho học sinh một số hoạt động sau và có thể bổ sung các hoạt động khác tuỳ vào điều kiện cụ thể. Hoạt động 1: Thực hành ứng dụng các kiến thức toán học vào thực tiễn, chẳng hạn: - Thực hành đếm, nhận biết số, thực hiện phép tính trong một số tình huống thực tiễn hằng ngày (ví dụ: đếm số bàn học và số cửa sổ trong lớp học,.
- Thực hành các hoạt động liên quan đến vị trí, định hướng không gian (ví dụ: xác định được một vật ở trên hoặc dưới mặt bàn, một vật cao hơn hoặc thấp hơn vật khác,. - Thực hành đo và ước lượng độ dài một số đồ vật trong thực tế gắn với đơn vị đo cm; thực hành đọc giờ đúng trên đồng hồ, xem lịch loại lịch tờ hằng ngày. Hoạt động 2: Tổ chức các hoạt động ngoài giờ chính khoá (ví dụ: các trò chơi học toán,.) liên quan đến ôn tập, củng cố các kiến thức cơ bản. Nhận xét về những điểm mới của Chương trình môn Toán lớp 1: - Về thời lượng: Chương trình môn Toán lớp 1 mới giảm 01 tiết/tuần (cả năm giảm 35 tiết), việc giảm tiết này là nhằm giảm tải cho học sinh lớp 1.