Chương 1: Cơ sở khoa học của dạy học tích hợp Chương 2: Xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực DHTH của GV trong dạy học Sinh học 12. Chương 3: Thực nghiệm sư phạm Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA DẠY HỌC TÍCH HỢP 1. Tổng quan về dạy học tích hợp 1. Trên thế giới Tích hợp là một trong những xu thế dạy học hiện đại hiện đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới.
Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình đã trở thành xu thế phát triển GD trên thế giới trong nhiều thập kỉ qua. Cách tiếp cận tích hợp trong xây dựng chương trình GD bắt đầu được đề cao ở Mỹ và các nước châu Âu từ những năm 1960 của thế kỷ XX. Gần một thập kỷ sau đó vấn đề này mới được quan tâm ở châu Á và ở Việt Nam (vào những năm 1970- 1980 của thế kỷ XX). Ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nước đã triển khai quan điểm tích hợp ở những mức độ nhất định.
Theo thống kê của UNESCO, từ năm 1960 đến năm 1974 trong số 392 chương trình được điều tra đã có 208 chương trình môn khoa học thể hiện quan điểm tích hợp ở những mức độ khác nhau từ liên môn, kết hợp đến tích hợp hoàn toàn theo những chủ đề. Từ năm 1960, đã có nhiều hội nghị quốc tế bàn về các chương trình môn tích hợp. Năm 1981, một tổ chức quốc tế đã được thành lập để cung cấp các thông tin về các chương trình môn tích hợp nhằm thúc đẩy việc áp dụng quan điểm tích hợp trong việc thiết kế chương trình các môn học trên thế giới. Ở Nga, DHTH trong GD là sự phát triển quan trọng và sâu sắc đầu tiên để kết nối các liên ngành, việc chuyển sang phối hợp giảng dạy các chuyên ngành khác nhau sẽ cho một mối tương tác quan trọng giữa các ngành.
Hiện nay, Nga đã thực hiện GD tích hợp trong một số môn học như vật lí, triết học, sinh học, địa lí, văn học… và áp dụng cho các cấp từ tiểu học đến đại học, GD tích hợp cuả các môn học này nhằm mục tiêu tạo điều kiện tối ưu cho sự phát triển tư duy của HS trong giảng dạy các môn khoa học dựa trên sự kết hợp các Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ đối tượng này; nhằm khắc phục một số mâu thuẫn trong quá trình học tập; thu hút sự quan tâm của HS đối với môn học này. Ở giai đoạn hội nhập, thực tiễn cho thấy những thành quả của việc tích hợp và xác định được triển vọng xa hơn và tinh tế hơn của phương pháp dạy học này. Ở Mỹ, là một quốc gia có hệ thống GD rộng lớn, đa dạng và ít điểm chung, Chính phủ liên bang Mỹ không hề bắt buộc các trường trên toàn quốc phải tuân theo một chương trình học chung hay bắt các trường phải dạy theo một tiêu chuẩn nào đó như nhiều quốc gia khác trên thế giới. Nhưng, việc giảng dạy ở đa số các trường học của quốc gia này đều hướng tới một chương trình tích hợp bằng cách củng cố các khái niệm GD phổ thông, hướng nghiệp, kỹ năng và liên hệ với cuộc sống thực tế, ứng dụng những kiến thức đã học để làm việc, DHTH làm tăng sự liên quan giữa các môn học.
Ngoài ra một số nước như Singapore, Trung Quốc, Anh, Pháp cũng chú trọng việc thực hiện dạy học theo hướng tích hợp. Các kiến thức như hướng nghiệp , công nghệ thông tin, GD môi trường… và các môn khoa học có nội dung gần giống nhau được tích hợp thành một bộ môn chung ở các cấp học [5].2 Ở Việt Nam Từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề xây dựng môn học tích hợp với những mức độ khác nhau mới thực sự được tập trung nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào nhà trường phổ thông, chủ yếu ở bậc Tiểu học và THCS. Trước đó, tinh thần giảng dạy tích hợp chỉ mới được thực hiện ở những mức độ thấp như liên hệ, phối hợp các kiến thức, kĩ năng thuộc các môn học hay phân môn khác nhau để giải quyết một vấn đề giảng dạy. Cách tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình GD phổ thông ở nước ta được bắt đầu từ cuộc cải cách GD lần thứ 3(1979).
Một ví dụ điển hình cho cách tiếp cận trên là lần đầu tiên trong chương trình, các kiến thức về khoa học với tên gọi là Tự nhiên và Xã hội được học từ lớp 1 đến lớp 5. Môn học Tự nhiên và Xã hội trong chương trình cải cách giai đoạn I được cấu trúc gồm 7 Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.vn/ chủ đề: Gia đình, Trường học, Quê hương, Thực vật, Động vật, Cơ thể người, Bầu trời và Trái đất. Giai đoạn II gồm 3 phân môn: Khoa học, Địa lí và Lịch sử. Phân môn Khoa học gồm các kiến thức thuộc các khoa học tự nhiên như: Sinh học, Vật lí, Hóa học, Địa lí đại cương.
Như vậy, trong chương trình cải cách, tích hợp chủ yếu thực hiện ở giai đoạn I và phân môn Khoa học ở giai đoạn II, còn các phân môn Địa lí và Lịch sử vẫn tồn tại một cách độc lập. Chương trình Tiểu học mới (2000), môn Tự nhiên và Xã hội trong chương trình cải cách giai đoạn I trước đây được cấu trúc gồm 7 chủ đề, nay được rút gọn thành 3 chủ đề lớn. Số chủ đề trong môn Khoa học (chương trình mới) ở giai đoạn II cũng có thể rút gọn từ 12 chủ đề trước đây, nay thành 4 chủ đề được xây dựng theo kiểu đồng tâm.Ví dụ trên cho thấy rõ tư tưởng tiếp cận tích hợp trong việc xây dựng chương trình GD phổ thông ở nước ta đã được quán triệt, tính tích hợp ngày càng được đề cao trong dạy và học. Xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và SGK THPT.
Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng bắt đầu triển khai các nghiên cứu để xây dựng một chương trình GD phổ thông mới, sẽ triển khai sau năm 2015. Chương trình này được đổi mới một cách cơ bản theo hướng tích hợp các môn học, tạo cơ hội lựa chọn nội dung học tập nhiều hơn và tăng cường hoạt động xã hội. Như vậy, DHTH được xem như một hướng chủ yếu trong đổi mới chương trình, nội dung GD ở nước ta [5]. Vấn đề về DHTH đã và đang được rất nhiều tác giả quan tâm.
Trong lĩnh vực Sinh học có thể kể đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như: PGS.TS Dương Tiến Sỹ (1997) đã viết luận án tiến sỹ giáo dục học với đề tài: “Giáo dục môi trường qua dạy học sinh thái học lớp 11 phổ thông trung học”, Luận án nhằm xác định một số phương pháp để tích hợp GDMT qua giảng dạy STH ở trường PTTH. Nếu vận dụng tiếp cận CT- HT và phương thức tích hợp vào dạy học STH thì sẽ xác định được những PP để tích hợp GD MT có hiệu quả [14]. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.TS Nguyễn Phúc Chỉnh (2012) đã biên soạn cuốn sách “Tích hợp trong dạy học Sinh học”. Trong cuốn sách này tác giả đã giới thiệu cho GV và HS những khái niệm cơ bản về DHTH, một số giá trị được tích hợp trong dạy học Sinh học.
Giúp GV Sinh học hiểu rõ về DHTH để hình thành năng lực DHTH ở trường THPT [5]. Ngô Thị Hằng (2013) với luận văn Thạc sĩ: “Tích hợp GD cách phòng tránh bệnh và tật di truyền chương “Di truyền học người”(Sinh học 12). Đề tài này tác giả đã xác định cơ sở lí luận định hướng cho việc tích hợp GD cách phòng tránh bệnh tật di truyền qua dạy học môn học và đề xuất một số biện pháp tích hợp GD cách phòng tránh bệnh và tật di truyền trong dạy học chương “Di truyền người” (Sinh học 12)” nhằm nâng cao chất lượng dạy – học [9]. Chu Thị Thu Hương (2013) với luận văn thạc sĩ: “Tích hợp GDMT & BĐKH trong dạy học sinh học Quần thể - Sinh học 12 THPT”.
Đề tài này tác giả đã cấu trúc hóa nội dung kiến thức sinh học Quần thể (Sinh học 12 THPT) đồng thời xác định được phương pháp tích hợp GDMT & BĐKH từ đó vừa nâng cao được chất lượng dạy học vừa tích hợp GDMT & BĐKH có hiệu quả [11]. Và nhiều tác giả khác. Nhưng để đánh giá năng lực DHTH của GV thì hiện nay vẫn chưa có công trình nào được công bố. Thực trạng tình hình DHTH Sinh học ở trƣờng phổ thông Để xác lập cơ sở thực tiễn cho việc xây dựng bộ tiêu chuẩn đánh giá năng lực DHTH của GV trong dạy học Sinh học 12, năm 2013 chúng tôi tiến hành khảo sát thực trạng về nhận thức, năng lực DHTH của GV Sinh học 12 tại 8 trường THPT ở tỉnh Yên Bái với số lượng là 30 người.
Chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn kết hợp với tìm hiểu các biên bản dự giờ, trực tiếp dự giờ, trao đổi ý kiến với GV (xem phụ lục 1). Số phiếu phát ra: 30, số phiếu thu lại: 30. Kết quả khảo sát thể hiện qua bảng 1. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu http://www.
Kết quả điều tra nhận thức của GV về DHTH trong Sinh học 12 Mức độ nhận thức của GV về dạy học tích hợp Số phiếu Tỷ lệ % 1. Hiểu về DHTH 10 33. Hiểu về mức độ cần thiết DHTH - Rất cần thiết 17 56.67 - Cần thiết 9 30 - Không cần thiết 4 13. Hiểu về mục đích DHTH - Vừa đảm bảo cung cấp tri thức khoa học cơ bản 23 76.67 môn học, vừa tích hợp GD các nội dung khác.
- Đảm bảo cho HS nắm kiến thức vững chắc 14 46.67 - Tạo được niềm tin, hứng thú cho HS 11 36.67 - Phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động sáng 22 73.33 tạo của HS trong quá trình học tập. Hiểu biết về các mức độ tích hợp - Tích hợp 7 23.67 Số liệu của bảng trên cho phép nhận định khái quát thực trạng nhận thức của GV về DHTH qua dạy học Sinh học như sau: - Chỉ có 33,33% GV hiểu về DHTH còn 66,67% GV chưa hiểu về DHTH. Qua trao đổi chúng tôi được biết những GV đã hiểu về DHTH là những GV đã được tham gia lớp tập huấn tích hợp GDMT trong môn Sinh học do sở GD tổ chức vào năm 2011 tuy nhiên hiệu quả DHTH của GV vẫn chưa cao.