Luận văn tốt nghiệp: Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho hạt lanh và dầu hạt lanh Linum usitatissimum

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu Luận văn tốt nghiệp bước đầu xây dựng tiêu chuẩn cơ sở dược liệu hạt lanh và dầu hạt lanh linum, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Dược học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2022

58
2
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. TỔNG QUAN VỀ LOÀI LINUM USITATISSIMUM L.

1.2. TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU LINUM USITATISSIMUM L. (HẠT LANH VÀ DẦU HẠT LANH)

1.3. THÀNH PHẦN HÓA HỌC

1.4. TÁC DỤNG TRONG CÁC BỆNH TIM MẠCH

1.5. TÁC DỤNG CHỐNG VIÊM, KHÁNG KHUẨN VÀ CHỐNG NẤM

1.6. TÁC DỤNG CHỐNG OXI HÓA

1.7. TÁC DỤNG PHÒNG NGỪA VÀ ĐIỀU TRỊ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TUÝP 2

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. NGUYÊN LIỆU, HÓA CHẤT VÀ MÁY MÓC, THIẾT BỊ

2.2. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.3. NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHUẨN CƠ SỞ HẠT LANH

2.4. VI PHẪU HẠT

2.5. TRO TOÀN PHẦN

2.6. TRO KHÔNG TAN TRONG ACID

2.7. ĐỊNH LƯỢNG POLYSACCHARID

2.8. NGHIÊN CỨU DẦU TỪ HẠT LANH

2.9. TRÍCH LY DẦU

2.10. ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT CẢM QUAN VÀ CHỈ SỐ LÝ HÓA CỦA DẦU

2.11. ĐỊNH LƯỢNG DẦU BÉO BẰNG PHƯƠNG PHÁP CÂN

2.12. PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN ACID BÉO CỦA DẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP GC/MS

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU HẠT LANH

3.2. ĐẶC ĐIỂM VI PHẪU HẠT

3.3. ĐẶC ĐIỂM BỘT DƯỢC LIỆU

3.4. TRO TOÀN PHẦN

3.5. TRO KHÔNG TAN TRONG ACID

3.6. ĐỊNH LƯỢNG POLYSACCHARID

3.7. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU DẦU TỪ HẠT LANH

3.8. ĐÁNH GIÁ TÍNH CHẤT CẢM QUAN VÀ CHỈ SỐ LÝ HÓA CỦA DẦU

3.9. ĐỊNH LƯỢNG DẦU BÉO BẰNG PHƯƠNG PHÁP CÂN

3.10. PHÂN TÍCH THÀNH PHẦN ACID BÉO CỦA DẦU BẰNG PHƯƠNG PHÁP GC/MS

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về hạt lanh và dầu hạt lanh

Hạt lanh, hay còn gọi là Linum usitatissimum, là một loại hạt có giá trị dinh dưỡng cao. Hạt lanh chứa khoảng 40% lipid, 30% chất xơ và 20% protein. Đặc biệt, hạt lanh là nguồn cung cấp omega-3 dồi dào, chủ yếu là acid α-linolenic (ALA). Hạt lanh được sử dụng rộng rãi trong chế độ ăn uống và có nhiều công dụng trong y học. Theo nghiên cứu, hạt lanh có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn, và chống oxi hóa. Hạt lanh cũng được biết đến với khả năng hỗ trợ điều trị bệnh tim mạch và đái tháo đường tuýp 2. Việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho hạt lanh và dầu hạt lanh là cần thiết để đảm bảo an toàn và hiệu quả trong sử dụng.

1.1. Thành phần hóa học của hạt lanh

Thành phần hóa học của hạt lanh rất đa dạng và phong phú. Hạt lanh chứa nhiều chất xơ, bao gồm cả chất xơ hòa tan và không hòa tan. Chất xơ hòa tan chiếm khoảng 4,3 – 8,6% trong khi chất xơ không hòa tan chiếm 12,8 – 17,1%. Hạt lanh cũng chứa các hợp chất phenolic như lignan, flavonoid và acid phenolic, có tác dụng chống oxi hóa và bảo vệ sức khỏe. Đặc biệt, lignan trong hạt lanh có khả năng chuyển đổi thành enterolignan trong cơ thể, mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe. Các nghiên cứu cho thấy hạt lanh là nguồn thực phẩm giàu tiền chất lignan nhất, vượt trội hơn so với nhiều loại ngũ cốc khác.

1.2. Công dụng của hạt lanh và dầu hạt lanh

Hạt lanh và dầu hạt lanh được biết đến với nhiều công dụng trong y học và dinh dưỡng. Hạt lanh có tác dụng bồi bổ sức khỏe, hỗ trợ tiêu hóa, và giúp giảm cholesterol. Dầu hạt lanh, với hàm lượng omega-3 cao, có khả năng giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch và cải thiện sức khỏe tim mạch. Ngoài ra, hạt lanh còn có tác dụng chống viêm, kháng khuẩn và hỗ trợ điều trị các bệnh lý như đái tháo đường tuýp 2. Việc sử dụng hạt lanh trong chế độ ăn uống hàng ngày có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, đặc biệt là trong việc phòng ngừa và điều trị các bệnh mãn tính.

II. Tiêu chuẩn chất lượng cho hạt lanh và dầu hạt lanh

Việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng cho hạt lanh và dầu hạt lanh là rất quan trọng để đảm bảo an toàn thực phẩm và hiệu quả trong sử dụng. Các tiêu chuẩn này bao gồm các chỉ tiêu về độ ẩm, tỷ lệ tro, hàm lượng lipid, và thành phần acid béo. Đặc biệt, tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cần được chú trọng để đảm bảo rằng hạt lanh và dầu hạt lanh không chứa các chất độc hại. Các nghiên cứu cho thấy rằng hạt lanh nguyên chất có thể bảo quản lâu hơn so với hạt lanh đã xay xát, do đó việc bảo quản đúng cách là rất cần thiết.

2.1. Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm

Tiêu chuẩn an toàn thực phẩm cho hạt lanh và dầu hạt lanh cần được thiết lập dựa trên các quy định hiện hành về an toàn thực phẩm. Các chỉ tiêu như hàm lượng chất độc hại, vi sinh vật, và các tạp chất cần được kiểm tra định kỳ. Việc đảm bảo an toàn thực phẩm không chỉ bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng mà còn nâng cao giá trị thương mại của sản phẩm. Hạt lanh và dầu hạt lanh cần được chứng nhận đạt tiêu chuẩn an toàn trước khi đưa ra thị trường.

2.2. Tiêu chuẩn chất lượng dinh dưỡng

Tiêu chuẩn chất lượng dinh dưỡng cho hạt lanh và dầu hạt lanh cần được xây dựng dựa trên các thành phần dinh dưỡng chính như lipid, protein, và chất xơ. Hạt lanh cần có hàm lượng omega-3 cao, đặc biệt là acid α-linolenic (ALA), để đảm bảo lợi ích sức khỏe. Các chỉ tiêu về hàm lượng vitamin và khoáng chất cũng cần được xem xét để đảm bảo rằng sản phẩm đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng của người tiêu dùng. Việc xây dựng tiêu chuẩn chất lượng dinh dưỡng sẽ giúp nâng cao giá trị của hạt lanh và dầu hạt lanh trong chế độ ăn uống hàng ngày.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. TỔNG QUAN VỀ LOÀI LINUM USITATISSIMUM L. Chi Linum thuộc họ Lanh (Linaceae) thuộc nhóm thực vật hạt kín (thực vật có hoa) [1]. Chi Linum là một trong 16 chi thực vật có hoa thuộc họ Lanh, các loài thuộc chi này hầu hết là cây thảo hoặc cây bụi nhỏ, phân bố ở một số vùng thuộc khu vực ôn đới ấm, cận nhiệt đới Bắc bán cầu [1].

Theo The Plant List [2] bao gồm 460 tên thực vật khoa học xếp hạng các loài cho chi Linum. Trong số đó chỉ có 108 tên loài được chấp nhận. Loài Linum usitatissimum L. đứng vị trí thứ 103 trên 108 loài được The Plant List sắp xếp theo bảng chữ bảng chữ cái.

Theo các tài liệu thực vật trong nước và nước ngoài, vị trí của Linum usitatissimum L. được sắp xếp trong các bậc taxon như sau [1]: Nghành Magnoliophyta (Nghành Ngọc lan) Lớp Magnoliopsida (Lớp Ngọc lan) Bộ Malpighiales (Bộ Sơ ri) Họ Linaceae (Họ Lanh) Chi: Linum Loài: Linum usitatissimum L. Phân bố trên thế giới: được trồng rộng rãi ở Châu Âu, Châu Á, Địa Trung Hải, ví dụ như Mỹ, Canada, Ấn Độ, Trung Quốc,… [1] Phân bố ở Việt Nam: Trước đây, giống cây Lanh được trồng ở SaPa (Lào Cai) nhưng hiện giờ không còn nữa mà được trồng chủ yếu trồng ở tỉnh Đắk Lắk, Cao Bằng, Hà Giang [3]. Đặc điểm hình thái: Cây Lanh là cây thân thảo sống hàng năm với hệ thống rễ có thể đâm xuyên trong đất tới độ sâu 99 – 122 cm [1,4].

1 Luan van Khi trồng để lấy sợi, cây cao trung bình từ 0,9 - 1,2 m với thân hình trụ tròn không phân nhánh có đường kính 2,5 - 4 mm, lúc già có màu vàng, các nhánh tập trung ở đỉnh [3,4]. Thường được trồng nhiều ở các vùng ôn đới trên thế giới như Châu Âu, Thổ Nhĩ Kì, Ai Cập,. Sản lượng thế giới hàng năm 600 - 700 nghìn tấn sợi, năng suất bình quân 4 - 5 tạ/ha [1,4]. Cây trồng lấy hạt thì ngắn hơn và nhiều nhánh, cây cao 0,2 – 0,7 m [4,5].

Các lá màu xanh mọc xen kẽ trên cuống, nhỏ, hình mũi mác, mép có lông nhỏ, dài 10 – 30 mm, rộng 3 mm. Hoa mọc trên thân hoặc mọc từ đầu cành, mọc riêng lẻ, hoa có năm cánh, thường có màu xanh lam nhưng đôi khi có màu trắng hoặc hồng, chiều dài 10 – 15 mm. Quả là một quả nang khô nhỏ có năm thùy, rộng từ 5 – 10 mm, một quả có thể chứ tới 10 hạt. Hạt dẹt, hạt có nhiều màu sắc khác nhau như vàng, nâu, vàng lục, nâu lục hoặc gần đen, nhưng chủ yếu trên thế giới các hạt có màu nâu bóng, chiều dài từ 4 – 6 mm [1,4,5,7].

Được trồng nhiều ở Địa Trung Hải, Ấn Độ, Mỹ, Achentina, Canada. Diện tích toàn thế giới hàng năm khoảng 5,5 - 7 triệu hecta, năng suất 5 tạ dầu/hecta [4]. Canada có diện tích và sản lượng hạt Lanh cao nhất trên thế giới, tiếp theo là Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ và EU [6].1: Cây Lanh 2 Luan van Hình 1.2: Các bộ phận của cây Lanh 3 Luan van  Đặc điểm sinh lý, sinh thái: Tốc độ sinh trưởng: Trung bình Cây được trồng bằng cách gieo hạt, không cấy cây con. Cây Lanh thường trồng vào mùa xuân hàng năm với thời gian sinh trưởng từ 90 - 110 ngày.

Vòng đời điển hình bao gồm 45 - 60 ngày thời kỳ sinh dưỡng, tiếp theo là ra hoa từ 15 - 25 ngày và thời gian trưởng thành từ 30 - 40 ngày [1]. Cây thích hợp với: đất nhẹ (đất có tỉ lệ cát nhiều hơn sét, dễ cày bừa), giàu mùn, thoát nước tốt. Cây ưa sáng, cây không thể phát triển trong bóng râm, nhu cầu nước trung bình. Độ pH thích hợp từ 5 – 7.

Cây ra hoa từ tháng sáu đến tháng bảy và hạt chín từ tháng tám đến tháng chín. Đây là loài lưỡng tính (có cả cơ quan đực và cái) và được thụ phấn nhờ côn trùng. Cây cũng có khả năng tự sinh sản [4,7]. Thời gian thu hoạch thích hợp là rất quan trọng.

Thu hoạch sớm làm giảm năng suất còn trong khi thu hoạch muộn có thể làm thay đổi thành phần hóa học của dầu, do đó chất lượng và giá trị của dầu cũng bị ảnh hưởng [1]. TỔNG QUAN VỀ DƯỢC LIỆU LINUM USITATISSIMUM L. (HẠT LANH VÀ DẦU HẠT LANH) Hạt Lanh có dạng dẹt, hình trứng, nhọn ở một đầu và tròn ở đầu kia, không bằng nhau, dài 4 - 6 mm, rộng 3 mm. Bề mặt hạt nhẵn, bóng, màu hạt có màu nâu sẫm [4,5, 10].3: Hạt lanh 4 Luan van Hạt Lanh có một số tên gọi như: Flaxseed, Linseed, Alasi seed, Aliviraaii, Ali Vithai, Teesi, Avisa ginjala, Graine de lin, Linaza, Lignanes de lin, Keten Tohumu, Leinsamen, Semi di lino, Semilla de lino [9].

Hạt Lanh nguyên hạt ổn định về mặt hóa học, nhưng hạt Lanh xay có thể bị ôi ở nhiệt độ phòng trong vòng ít nhất một tuần do đó cần làm lạnh và bảo quản trong hộp kín sẽ giúp lâu bị ôi thiu trong thời gian dài hơn. Hạt Lanh đã xay xát bảo quản được trong 9 tháng ở nhiệt độ phòng nếu được đóng gói ngay lập tức mà không tiếp xúc với không khí và ánh sáng, trong 20 tháng ở nhiệt độ môi trường trong điều kiện kho [11]. Thành phần hóa học Thành phần hóa học sẽ khác nhau đáng kể giữa các giống và cũng phụ thuộc vào điều kiện môi trường mà cây được trồng. Hạt Lanh chứa khoảng 40% lipid, 30% chất xơ, 20% protein.

Lá mầm chứa 75% lipid và 76% protein được tìm thấy trong hạt. Nội nhũ chỉ chứa 23% lipid và 16% protein. Thành phần lipid trong hạt Lanh chứa nguồn acid béo Omega-3, đặc biệt là acid α-linolenic (ALA) rất dồi dào, có thể chiếm tới 52% tổng số acid béo. Hơn nữa, hạt Lanh còn chứa các hợp chất phenolic bao gồm các lignan, flavonoid và acid phenolic.

Các hợp chất này nằm ở các phần khác nhau của hạt và bị ảnh hưởng thay đổi tỉ lệ trong quá trình khai thác và chế biến dầu [12].  Lipid Thành phần chính của hạt Lanh là dầu của nó, và đây là đối tượng chế biến chính của hạt Lanh trong nhiều năm, là nguồn cung cấp omega -3 (acid α-linolenic) vô cùng dồi dào. Tỷ lệ acid béo n-6: n-3 trong dầu hạt Lanh là khoảng 0,3 : 1 [11,12]. Hàm lượng dầu, thành phần acid béo trong hạt Lanh có thể bị ảnh hưởng bởi điều kiện trồng trọt và môi trường.

Do đó thành phần acid béo của các mô trong hạt Lanh không đồng nhất. Hàm lượng acid linolenic trong phôi, tinh hoàn và nội nhũ đều cao hơn trong trục phôi. Vỏ là nguồn cung cấp chính acid palmitic [11,15]. Các lá mầm là mô chủ yếu chứa dầu, chứa các acid α-linolenic (ALA), acid linoleic (LA), acid oleic, acid stearic và acid palmitic [12].

Hạt Lanh chứ khoảng 40% lipid trong đó [12,13]: - Lipid trung tính (Neutral lipid) chiếm 96,2% (33,7 – 40,4 g/100 hạt) trong đó + Acid béo tự do chiếm 0,3% + Monoacylglycerols chiếm 1,4% + Diacylglycerols chiếm 2,3% + Triacylglycerols chiếm 94,7% + Sterols chiếm 1,3% - Lipid phân cực (Polar lipid) chiếm 2,8% (0,95 – 1,1 g/100 g hạt) - Lipid phức hợp (Complex lipid) chiếm 1% (0,4 g/100 g hạt) Dầu hạt Lanh chủ yếu được tìm thấy dưới dạng triacylglycerol (TAG) 94,7% và acid béo tự do 0,3% [12,13]. Các TAG phân bố trong hạt Lanh được thể hiện trong bảng 1.1: Các TAG phân bố trong hạt Lanh Triacylglycerol (TAG) % Triacylglycerol (TAG) % LnLnLn 30,4 OLnP 3,1 LaLnLn 18,7 LnLaP 3,0 OLnLn 13,5 SLaLa 1,1 LnLnP 6,9 OLaLa 1,0 OLaLn 5,9 LaLaLa 0,9 LaLaLn 5,3 OLaO 0,8 OLnO 4,2 LaOP 0,6 SLnLn 4,1 PLaP 0,5 Trong đó: P: acid palmitic; Ln: acid linolenic; La: acid linoleic; O: acid oleic; S: acid stearic 6 Luan van Có tổng cộng 16 TAG được phát hiện, trong đó LnLnLn chiếm cao nhất với 30,4%. Thành phần DAG (Diacylglycerols) chủ yếu của dầu hạt Lanh là LaLn [13]. Khi các dạng monotriacylglycerol (MAG), diacylglycerols (DAG), triacylglycerol (TAG) vào cơ thể, dưới xúc tác của enzyme tiêu hóa sẽ phản ứng tại liên kết este, thủy phân liên kết và giải phóng ra các acid béo.

Do TAG chiếm cao nhất là LnLnLn và thành phần Ln luôn chiếm tỷ lệ phầm trăm cao trong các TAG khác nên thành phần acid béo acid linolenic luôn chiếm tỷ lệ cao hơn so với các thành phần acid khác, chiếm tới 50-62% tổng acid béo được tạo ra. Đây cũng là thành phần hóa học chính đóng góp tác dụng cốt yếu và quan trọng nhất của dầu hạt Lanh với sức khỏe con người [14]. Năng suất khai thác dầu và hàm lượng acid béo (acid linolenic - omega 3; acid linoleic - omega 6; acid oleic - omega 9) có sự khác nhau dựa vào giống cây trồng, điều kiện trồng trọt và môi truường. Ví dụ như hàm lượng ALA của hạt trồng ở Canada là 61,9%, ở Thổ Nhĩ Kỳ là 56,5% - 61%, ở Ba Lan là 57,1%, Ethiopia là 51,9% … Ngoài ra, các yếu tố như loại dung môi, thời gian chiết xuất, cách chuẩn bị mẫu chiết, công nghệ khai thác dầu cũng ảnh hưởng đến kết quả phân tích.

Ví dụ như theo Bozan và Temelli nghiên cứu, phương pháp chiết xuất siêu tới hạn CO2 cho hàm lượng ALA trung bình cao hơn (60,5%) so với phương pháp chiết xuất soxhlet (56,7%) [13]. Trong phần không xà phòng hóa (non-saponifiable fraction) của dầu Lanh có các chất hóa học có nguồn gốc từ triterpenes đã được xác định là cholesterol, campesterol, stigmasterol, ∆5-avenasterol, cycloartenol và 24-methylenecycloartenol [14]. Trong phần phospholipid, theo Aylward và Nichols nghiên cứu thì có một số sterol tồn tại dưới dạng glycoside. Tocopherol - chất chống oxy hóa hòa tan trong chất béo tự nhiên chứa 40 cacbon, có trong dầu với nồng độ khoảng 10 mg/100g hạt.

Nồng độ thay đổi tùy theo điều kiện trồng trọt và trồng trọt. Gamma-tocopherol chiếm khoảng 80% tổng số tocopherol trong dầu (theo Oomah và cộng sự). Hai diterpene là phytol và geranyl geraniol là tiền chất để sinh tổng hợp vitamin E và vitamin K cũng được phân lập từ phần chưng cất dầu hạt Lanh [14]. 7 Luan van Hình 1.4: Isoprenoid trong dầu hạt Lanh  Chất xơ Hạt Lanh chứa các chất xơ hòa tan và không hòa tan với tỷ lệ thay đổi trong khoảng 20 – 40 % và 60-80 %.

Cụ thể trong 100 g hạt khô, chất xơ hòa tan chiếm 4,3 – 8,6 %, chất xơ không hòa tan chiếm 12,8 – 17,1%. Phần chất xơ không hòa tan bao gồm cellulose, hemicellulose và lignin. Phần chất xơ hòa tan tạo thành chất nhầy dạng giống như gôm khi có nước chủ yếu là polysaccharid (chiếm 80%) [11,14,15]. Một đặc điểm đã được công nhận từ lâu của hạt Lanh làm cho nó khác biệt với các loại hạt có dầu khác là có hàm lượng cao chất nhầy polysaccharid.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn tốt nghiệp mang tiêu đề "Luận văn tốt nghiệp: Xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho hạt lanh và dầu hạt lanh Linum usitatissimum" của tác giả Nguyễn Hương Lợi, dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Hải Yến, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội vào năm 2022. Bài viết tập trung vào việc xây dựng tiêu chuẩn cơ sở cho hạt lanh và dầu hạt lanh, một loại nguyên liệu quan trọng trong ngành dược học. Nội dung của luận văn không chỉ cung cấp những kiến thức chuyên sâu về tiêu chuẩn chất lượng mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc áp dụng các tiêu chuẩn này trong sản xuất và sử dụng hạt lanh, từ đó nâng cao chất lượng sản phẩm và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng.

Để mở rộng thêm kiến thức về các phương pháp và tiêu chuẩn trong lĩnh vực dược học, bạn có thể tham khảo bài viết "Nghiên cứu phương pháp định lượng andrographolide trong dược liệu xuyên tâm liên bằng HPTLC", nơi trình bày về việc xây dựng phương pháp định lượng cho một loại dược liệu khác. Ngoài ra, bài viết "Khảo Sát Nhu Cầu Tư Vấn Sử Dụng Thuốc Của Bệnh Nhân Điều Trị Ngoại Trú Tại Bệnh Viện Đại Học Y Hà Nội Năm 2023" cũng sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về nhu cầu tư vấn sử dụng thuốc, một khía cạnh quan trọng trong việc đảm bảo an toàn và hiệu quả điều trị cho bệnh nhân. Những tài liệu này không chỉ giúp bạn hiểu rõ hơn về tiêu chuẩn và quy trình trong ngành dược mà còn mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan đến sức khỏe cộng đồng.