đặt vấn đề về diễn ngôn của các triết gia Đức như Karl Otto Apel và Jurgen Habermas” (Huỳnh Văn Vân, 2016). Bên cạnh đó cũng có một số đóng góp quan trọng của các nhà nghiên cứu khác. Đầu thế kỷ XXI, bên cạnh việc kế thừa những quan điểm của người đi trước, lý thuyết tiếp nhận có sự phát triển những góc nhìn mới như: truyền thông, ngôn ngữ, đạo đức học, … Trong công trình “Văn học, người đọc, định chế - Tiếp nhận văn học: giới thiệu lý thuyết, nghiên cứu và dịch thuật”, Hoàng Phong Tuấn đã trình bày những luận điểm chính của Iser về tiếp nhận văn học như sau: Thứ nhất, Iser đề cao tính sáng tạo của người đọc. Theo ông, người đọc luôn có cho mình một kinh nghiệm đọc và khi tiếp cận tác phẩm mới họ sẽ làm cho tác phẩm bộc lộ những ý nghĩa tiềm tàng.
Thứ hai, ông đặc biệt nhấn mạnh về tính hư cấu của văn bản văn học. Văn học không tái hiện thực tế, không đưa người đọc về thực tại mà nó “thức tỉnh học khỏi thực tại hằng ngày”. Một tác phẩm có giá trị phải có sức mời gọi và khiến cho người đọc cảm thấy bất ngờ so với những mong đợi trước đó và đưa người đọc trải nghiệm một kinh nghiệm khác biệt. Trải nghiệm của quá trình đọc cũng giống như tiếp thu một kinh nghiệm mới.
Nó giúp ta mở rộng biên giới kinh nghiệm và phơi bày những góc khuất của tâm hồn mình. Thứ ba, ông cho rằng văn học đặt cơ sở cho tính linh hoạt và mềm dẻo của con người. Con người đến với văn học như đến với một “lễ hội miên man với vô số trò chơi mà mỗi trò chơi là một sự dàn dựng”, họ sẽ trải nghiệm các trò chơi để thử thách năng lực tìm kiếm chính mình. Văn học làm cho con người biểu hiện mình, nhận thức mình trong nhiều thế giới.
Hành trình lý thuyết của Iser, như ông tổng kết, là đi “từ sự hồi ứng của người đọc đến nhân học văn học”. Xuyên suốt hành trình ấy là mối quan tâm của ông đến đặc trưng của văn bản tạo nên mối quan hệ tương tác giữa văn bản và người đọc (Hoàng Phong Tuấn, 2017). 17 Đối với Hans Robert Jauss, theo ông, điều quan trọng tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm đó là nó sẽ gợi ra chân trời chờ đợi của người đọc về những tác phẩm đã đọc trước đó rồi sau đó đưa vào thêm những yếu tố mới lạ để chuyển đổi chân trời chờ đợi này của họ. Bên cạnh đó, không chỉ người đọc mới có chân trời chờ đợi mà ngay chính bản thân tác phẩm đã có một chân trời đề xuất phạm vi diễn giải ý nghĩa gợi ý cho người đọc nó.
Theo Jauss, khoảng cách với công chúng đương thời mới là thước đo giá trị tác phẩm và việc hiểu văn học không phải là quá trình hội nhập vào tác phẩm, mà là quá trình người đọc trải nghiệm về sự khác biệt và khoảng cách giữa chân trời quá khứ của tác phẩm và chân trời hiện tại của họ. Ông cũng khẳng định rằng văn học không tự tạo ra tính lịch sử và giá trị thẩm mĩ của nó mà phải dựa vào sự tiếp nhận của chủ thể kinh nghiệm thẩm mĩ. Theo ông, những tác phẩm văn học trong quá khứ hiện lên là những tác động, động lực và là những câu hỏi lớn được con người thời đại đón nhận và có trách nhiệm trả lời, để cho lịch sử văn học có thể tiếp tục. Điều quan trọng là có sự nảy sinh những góc nhìn mới từ hiện tại, thoát khỏi những cái bóng lớn có từ truyền thống.
Tác phẩm văn học không phải “một khách thể tồn tại riêng nó”, nó không trình ra cho mọi người quan sát ở mọi thời kỳ một dạng như nhau, nó không phải là “một tượng đài phô bày cái bản chất vô thời hạn của nó bằng sự độc thoại”. Ông quan niệm tác phẩm văn học như là một “tổ khúc” nhằm đến sự cộng hưởng luôn luôn đổi mới của việc đọc. Điều này cho thấy nét nổi bật trong hệ thống lập luận của Jauss là quan hệ đối thoại được triệt để thay cho sự độc thoại vốn tiêu biểu cho các quan niệm văn học trước nay (Hoàng Phong Tuấn, 2017). Trên đây là hai quan điểm nổi bật đã đặt nền móng cho lí thuyết tiếp nhận và được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình và trở thành cơ sở lí thuyết trong rất nhiều nghiên cứu về tiếp nhận văn học trên thế giới.
Những đặc trưng của tiếp nhận văn học Lí thuyết tiếp nhận văn học đến nay đã cơ bản hoàn thiện và có ảnh hưởng lớn đối với việc nghiên cứu văn học. Dựa vào những tài liệu tìm được, chúng tôi xin rút ra một số đặc trưng cơ bản của lí thuyết tiếp nhận như sau: Đặc điểm thứ nhất, tiếp nhận là giai đoạn cuối cùng của quá trình sáng tác. Như tất cả chúng ta đều biết rằng sự tiếp nhận dù sao đi nữa vẫn luôn đi sau sự sản xuất. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận vị trí và vai trò của tiếp nhận, phủ nhận sự hiện thực hóa văn bản thông qua người đọc và sự tác động trở lại của nó đối với sản xuất.
Thứ hai, tiếp nhận văn chương là sử dụng thế giới tinh thần (tư tưởng - tình cảm…) trong văn chương. Thế giới tinh thần được tạo ra thông qua các hình tượng cụ thể xây dựng bởi chất liệu ngôn ngữ. Việc mua bán tác phẩm văn chương đương nhiên không phải là tiếp nhận văn chương. Việc đọc văn chương để tìm hiểu những cứ liệu lịch sử, địa lí, tâm lí, ngôn ngữ v.v… cũng không phải là tiếp nhận văn chương đích thực.
Mặc dầu cùng đọc những quyển sách được viết ra bằng những con chữ cả, nhưng đọc văn không phải như đọc tác phẩm chính trị hay triết học. Thứ ba, tiếp nhận văn học phụ thuộc vào các yếu tố lịch sử xã hội. Mỗi ngữ cảnh lịch sử xã hội sẽ có những quy tắc riêng chi phối các hoạt động giao tiếp, truyền thông và nhất là hoạt động lí giải, đánh giá văn bản văn học. Theo đó, chúng ta có rất nhiều cách để phân loại người đọc.
Điều này dẫn đến việc nghiên cứu tiếp nhận văn học cũng có sự ảnh hưởng theo. Thậm chí, theo Rainer Warning, sự khác biệt nhất định thuộc về thế hệ (chuẩn mực của con cái, cha mẹ, ông bà) cũng có ảnh hưởng đến việc tiếp nhận văn học. Thứ tư, người đọc các tác phẩm văn chương phải đặt mình trong tâm thế lắng nghe. Các quy ước trong văn bản chỉ là điểm tựa để văn bản từng bước phá hủy chờ đợi của người đọc, những chờ đợi có được từ kinh nghiệm đọc và kinh 19 nghiệm đời sống trước đó.
Như vậy, văn bản không dẫn người đọc về lại thực tại mà thức tỉnh họ khỏi thực tại hằng ngày. Thứ năm, tiếp nhận văn chương phải mang tính chất khách quan. Khi tiếp nhận bất kì một tác phẩm nào đó thì đầu tiên phải xuất phát từ tình cảm của người đọc dành cho tác phẩm đó. Lanson đã khẳng định: “Văn học không phải là đối tượng để nhận thức: đó là sự thực hành, sự thưởng thức.
Người ta không thể biết nó, không thể học nó, mà người ta thực hành nó, nuôi dưỡng và yêu mến nó”. Tuy nhiên, khi nghiên cứu tác phẩm thì người đọc phải luôn tỉnh táo để đưa ra những nhận xét khách quan, khoa học và thể hiện được quan điểm riêng của mình. Lanson cũng nhấn mạnh rằng: Khi nghiên cứu, chúng ta không thể dùng những phương pháp hay những thể nghiệm mà ai cũng có thể sử dụng để thu được những kết quả giống hệt nhau, ngược lại, chúng ta phải áp dụng những khả năng của riêng mình, không giống với người khác, do vậy mà kết quả đạt được bao giờ cũng chỉ tương đối, không tuyệt đối đúng (Phạm Quang Trung, 2013). Cuối cùng, một đặc điểm nổi bật nhất của việc tiếp nhận văn học đó là tính sáng tạo.
Theo Huỳnh Phan Anh: “Có lẽ không ai phủ nhận rằng, người ta viết để được đọc. Một tác phẩm dường như lúc nào cũng chờ được đọc tới. Nó là lời kêu gọi gởi gắm đến mọi người, như một nỗi dở dang đang chờ được hoàn thành, như một lỗ hổng cần được lấp đầy” (Huỳnh Phan Anh, 1972). Đó là việc người đọc lấp đầy những khoảng trống trong tác phẩm, tái tạo nó bằng những cảm xúc, suy nghĩ riêng của họ.
Ingarden đã nhấn mạnh rằng tác phẩm văn học sẽ được “cụ thể hóa”thông qua quá trình tiếp nhận. Trần Đình Sử cũng nhận định rằng: Có nhiều cách đọc và sẽ không có một người đọc duy nhất đúng. Những cách đọc tác phẩm bằng cách trích dẫn ý kiến thưởng thức của các tác giả 20 có uy tín đi trước rồi xem là duy nhất đúng chẳng có gì hơn là một sự lặp lại đơn thuần. Người đọc văn học được xem là kẻ đồng sáng tạo ra tác phẩm không phải chỉ với tư cách làm sống dậy tác phẩm trong cảm thụ (như bù đắp, chắp nối, liên tưởng, cụ thể hóa.) mà còn phát hiện ý nghĩa mới và mối liên hệ chỉnh thể tương ứng với nó.
Như vậy, chỉ cần có căn cứ đầy đủ thì mọi cách đọc đều là những cách mở ra các cánh cửa chìm của tác phẩm (Trần Đình Sử, 1999). Tuy nhiên, sáng tạo nhưng không được quá xa rời, võ đoán ngoài văn bản hay rất xa với nghĩa gốc của văn bản. Theo Hồ Thế Hà, việc tiếp nhận sáng tạo “chỉ đúng và có giá trị trong giới hạn cho phép mà tác phẩm gợi mở, vẫy gọi” (Hồ Thế Hà, 2014). Trần Đình Sử cũng lưu ý rằng: Lý luận tiếp nhận ngày nay giải phóng cho sức sáng tạo của người đọc, mở cửa cho sự phê bình nhiều phía nhiều chiều, nhưng cũng đòi hỏi hơn bao giờ hết sự cẩn trọng.
Nó dập tắt cái tư tưởng chỉ sùng bái một vài cây bút được gọi là quyền uy, mặc dù tài năng không phải là thứ được chia đều cho mọi người (Trần Đình Sử, 1999). Như vậy, trong quá trình hoạt động văn học, tác giả và độc giả đều có vai trò cộng hưởng quan trọng của mình và tác phẩm văn học là đối tượng trưng tâm của quá trình sáng tạo và tiếp nhận văn học. Tình hình nghiên cứu tiếp nhận văn học ở Việt Nam Trong khoảng hai thập niên gần đây, các nhà nghiên cứu văn học ở nước ta bắt đầu có sự quan tâm và giới thiệu lí thuyết tiếp nhận đến công chúng Việt Nam thông qua các bài viết trên báo, tạp chí hay các chuyên khảo về văn học.