phần Mở đầu, Kết luận và khuyến nghị, Tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn triển khai theo 3 chương: Chƣơng 1. Cơ sở lý luận của đề tài Chƣơng 2. Thực trạng tích hợp giáo dục KNS và biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh qua dạy học phần Làm văn (Ngữ văn 10, tập 2) Chƣơng 3. Thực nghiệm sư phạm 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.
Kĩ năng sống và giáo dục kĩ năng sống 1. Kĩ năng sống Kỹ năng sống (life skills) là khái niệm được sử dụng rộng rãi cho mọi lứa tuổi trong lĩnh vực hoạt động thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Ngay những năm đầu thập kỷ 90, các tổ chức Liên Hiệp Quốc (LHQ) như WHO (Tổ chức Y tế Thế giới), UNICEF (Quỹ cứu trợ Nhi đồng LHQ), UNESCO (Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của LHQ) đã chung sức xây dựng chương trình giáo dục KNS cho thanh thiếu niên. Tuy nhiên, cho đến nay, khái niệm này vẫn nằm trong tình trạng chưa có một định nghĩa rõ ràng và đầy đủ.
Theo WHO (Tổ chức Y tế thế giới): KNS là những kĩ năng thiết thực mà con người cần để có cuộc sống an toàn và khỏe mạnh. Rộng hơn, KNS là những năng lực mang tính tâm lí xã hội và kĩ năng về giao tiếp để tương tác hiệu quả với người khác và giải quyết có hiệu quả những vấn đề, những tình huống của cuộc sống hàng ngày [10, tr. Theo UNICEF (Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc): KNS là cách tiếp cận giúp thay đổi hoặc hình thành hành vi mới. Cách tiếp cận này lưu ý đến sự cân bằng về tiếp thu kiến thức, hình thành thái độ và kĩ năng [10, tr.
Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên hợp quốc (UNESCO) quan niệm: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân để thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hàng ngày, đồng thời coi KNS gắn với 4 trụ cột của giáo dục, đó là: Học để biết (learning to know); Học để tự khẳng định (Learning to be); Học để chung sống với người khác (Learning to live together); Học để làm (Learning to do) [10, tr. Từ các quan niệm về KNS nêu trên, có thể rút ra nhận xét: 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Có nhiều cách biểu đạt khái niệm KNS với quan niệm rộng hẹp khác nhau tùy theo cách tiếp cận vấn đề. Khái niệm KNS được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những năng lực tâm lý xã hội (TLXH). Theo nghĩa rộng, KNS không chỉ bao gồm năng lực tâm lý xã hội mà còn bao gồm cả những kĩ năng tâm vận động.
- Mặc dù cách biểu đạt khái niệm KNS có khác nhau (việc xác định nội hàm của khái niệm nông, sâu khác nhau dẫn đến phạm vi phản ánh của khái niệm rộng, hẹp khác nhau) nhưng điểm thống nhất trong các quan niệm về KNS là: khẳng định KNS thuộc về phạm trù năng lực (hiểu kĩ năng theo nghĩa rộng) chứ không thuộc phạm trù kĩ thuật của hành động, hành vi (hiểu kĩ năng theo nghĩa hẹp). - Do tính chất phức tạp của KNS nên trong thực tế, các tài liệu về KNS đề cập đến mọi lĩnh vực hoạt động từ học tập để chuẩn bị vào nghề, cách học ngoại ngữ, kỹ năng làm cha mẹ đến tổ chức trại hè. Tuy nhiên cần phân biệt giữa những kỹ năng để sống còn (livelihood skills, survival skills) như học chữ, học nghề, làm toán, v. với khái niệm KNS đã được đề cập ở các định nghĩa nêu trên.
Tóm lại, khái niệm KNS được hiểu theo nhiều cách khác nhau ở từng khu vực và từng quốc gia. Ở một số nước, KNS được hướng vào giáo dục vệ sinh, dinh dưỡng và phòng bệnh. Một số nước khác KNS lại hướng vào giáo dục hành vi và cách ứng xử , giáo dục an toàn giao thông, bảo vệ môi trường hay giáo dục lòng yêu hòa bình. Theo đó, vấn đề phát triển KNS cho thanh thiếu niên ở các nước cũng khác nhau.
Có nước chỉ hạn chế những KNS cần cho lĩnh vực bảo vệ sức khỏe, phòng tránh các tệ nạn xã hội, nghĩa là KNS chỉ dành cho một số nhóm đối tượng có nguy cơ cao để đương đầu với những thách thức của xã hội, KNS không phải là cần cho mọi người. Nhưng ở một số nước khác, sự nhận thức về KNS sâu sắc hơn, do đó, KNS được phát triển cho mọi đối tượng để với những KNS đó con người có thể vận dụng vào giải quyết các vấn đề xã hội khác nhau, trong các hoàn cảnh và tình huống khác nhau của 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com từng loại đối tượng. Tuy nhiên, xu hướng chung là sử dụng khái niệm KNS của UNESCO (sử dụng khái niệm KNS theo nghĩa rộng) để triển khai các hoạt động phát triển KNS cho các đối tượng trong xã hội, đặc biệt là thanh thiếu niên. Điều này được lý giải bởi hai lý do: Thứ nhất, nếu hiểu KNS theo nghĩa hẹp là đồng nhất KNS với năng lực TLXH do đó làm giảm đi phạm vi ảnh hưởng cũng như tác dụng của KNS.
Năng lực TLXH đề cập tới khả năng của con người biểu hiện những cách ứng xử đúng hoặc chính xác khi tương tác với người khác trong các tình huống khác nhau của môi trường xung quanh dựa trên nền văn hóa nào đó. Nhưng, điều cần lưu ý là, con người không chỉ cần có năng lực thích ứng với những thách thức của cuộc sống mà con người còn cần và phải biết cách thay đổi một cách phù hợp và mang tính tích cực; Thứ hai, khái niệm KNS theo nghĩa rộng đã bao hàm trong nó năng lực TLXH với ý nghĩa là thành phần có vai trò chung trong việc hỗ trợ cho sức khỏe tinh thần và sức khỏe thể chất, giúp cá nhân sống hạnh phúc với những người khác trong xã hội. Bên cạnh đó, theo nghĩa rộng, khái niệm KNS còn đề cập đến khả năng con người quản lý được các tình huống rủi ro, không chỉ đối với bản thân mà còn có thể gây ảnh hưởng đến mọi người trong việc chấp nhận các biện pháp ngăn ngừa rủi ro. Đây chính là khả năng con người quản lý một cách thích hợp bản thân, người khác và xã hội trong cuộc sống hàng ngày.
Với phân tích nêu trên, tác giả luận văn sử dụng khái niệm KNS trong nghiên cứu luận văn với nội hàm: “khả năng làm cho hành vi và sự thay đổi của mình phù hợp với cách ứng xử tích cực giúp con người có thể kiểm soát, quản lý có hiệu quả các nhu cầu và những thách thức trong cuộc sống hàng ngày”. Do tiếp cận kĩ năng sống tương đối đa dạng nên cũng có nhiều cách phân loại KNS. Theo tổng hợp của tác giả Nguyễn Thanh Bình [8, tr.4], tồn tại các cách phân loại KNS như sau: - Phân loại xuất phát từ lĩnh vực sức khỏe. Theo cách phân loại này có 3 nhóm KN: 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Nhóm 1: nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm các kĩ năng, cụ thể: tư duy phê phán, giải quyết vấn đề, nhận thức hậu quả, tư duy phân tích, khả năng sáng tạo, tự nhận thức, đặt mục tiêu, xác định giá trị.
Nhóm 2: các kĩ năng đương đầu với xúc cảm, gồm các kĩ năng cụ thể: ý thức trách nhiệm, cam kết, kiềm chế sự căng thẳng, kiềm chế được cảm xúc, tự quản lí, tự giám sát và tự điều chỉnh. Nhóm 3: nhóm kĩ năng xã hội (hay kĩ năng tương tác) với các kĩ năng thành phần: giao tiếp, quyết đoán, thương thuyết, từ chối, hợp tác, sự cảm thông chia sẻ, khả năng nhận thấy thiện cảm của người khác. - UNESCO cho rằng cách phân loại KNS theo 3 nhóm nêu trên mới chỉ dừng ở các KNS chung, trong khi đó, còn có những KNS thể hiện trong những vấn đề cụ thể khác nhau trong đời sống xã hội. Vì thế, UNESCO đề xuất thêm các KNS như: vệ sinh, vệ sinh thực phẩm, sức khỏe, dinh dưỡng; các vấn đề về giới, giới tính, sức khỏe sinh sản; ngăn ngừa và chăm sóc người bệnh HIV/AIDS; phòng tránh rượu, thuốc lá và ma túy; phòng ngừa thiên tai, bạo lực và rủi ro; hòa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng; giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trường; phòng chống buôn bán trẻ em và phụ nữ.
- Với mục đích giúp người học ứng phó với các vấn đề của cuộc sống và tự hoàn thiện mình, UNICEF phân loại KNS theo các mối quan hệ của cá nhân với các nhóm KNS: + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình, bao gồm các kĩ năng: kĩ năng tự nhận thức, lòng tự trọng, sự kiên định, đương đầu với cảm xúc, đương đầu với căng thẳng. + Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với người khác, với các kĩ năng thành phần: kĩ năng quan hệ tương tác liên nhân cách, sự cảm thông, đứng vững trước áp lực tiêu cực của bạn bè hoặc của người khác, thương lượng, giao tiếp có hiệu quả. 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com + Nhóm kĩ năng ra quyết định một cách hiệu quả, gồm các kĩ năng: tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề. Những cách phân loại nêu trên đã đưa ra bảng danh mục các KNS có giá trị trong nghiên cứu phát triển lý luận về KNS và chỉ có tính chất tương đối.
Trên thực tế, các KNS có mối quan hệ mật thiết với nhau bởi khi tham gia vào một tình huống cụ thể, con người cần phải sử dụng rất nhiều kĩ năng khác nhau. Ví dụ, khi cần quyết định một vấn đề nào đó, cá nhân phải sử dụng những kĩ năng như: kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng tư duy phê phán, kĩ năng tư duy sáng tạo và kĩ năng kiên định, … Kết quả nghiên cứu về KNS của nhiều tác giả, đã khẳng định: “dù phân loại theo hình thức nào thì một số kĩ năng vẫn được coi là kĩ năng cốt lõi như: kĩ năng xác định giá trị, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng đương đầu với cảm xúc, căng thẳng; kĩ năng giải quyết mâu thuẫn một cách tích cực; kĩ năng tự nhận thức, kĩ năng ra quyết định, kĩ năng đặt mục tiêu.