phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, cấu trúc luận văn gồm ba chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở khoa học của việc tích hợp GDHN trong dạy học văn bản thông tin cho học sinh THPT Chƣơng 2: Tổ chức tích hợp GDHN trong dạy học văn bản thông tin cho học sinh THPT Chƣơng 3: Thực nghiệm tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp cho học sinh thông qua dạy học văn bản thông tin trong chƣơng trình Ngữ văn THPT 8 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC VĂN BẢN THÔNG TIN CHO HỌC SINH THPT 1. Tích hợp và các khái niệm liên quan 1. Tích hợp và dạy học tích hợp Tích hợp (tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa xác lập lại cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. [2] Theo định nghĩa của Unesco, tích hợp là một cách trình bày các khái niệm và nguyên lý khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tƣ tƣởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau.
Nhƣ vậy, tích hợp có thể hiểu là sự xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ. 30] Tích hợp là sự lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.981] Trong giáo dục, khái niệm Tích hợp xuất hiện từ thời kỳ Khai sáng (thế kỷ XVIII) dùng để chỉ một quan niệm giáo dục toàn diện con ngƣời, chống lại hiện tƣợng làm cho phát triển thiếu hài hòa, cân đối. Trong dạy học các bộ môn, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp, tổ hợp các nội dung từ môn học thành “môn học” mới, nhƣ Vật lý, Hóa học, Sinh học đƣợc tích hợp thành Khoa học tự nhiên; Lịch sử, Địa lý, Xã hội học, Kinh tế học thành môn Nghiên cứu xã hội. [2] Tích hợp cũng có thể hiểu là sự lồng ghép các nội dung cần thiết vào nội dung vốn có của môn học, ví dụ: lồng ghép nội dung giáo dục dân số, giáo dục 9 môi trƣờng… vào nội dung các môn học: Địa lý, Sinh học, Giáo dục công dân…xây dựng trong các môn học truyền thống.
[2] Về phƣơng diện lí luận dạy học, tích hợp đƣợc hiểu là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức trong một môn học hoặc giữa các môn học thành một nội dung thống nhất. Cũng có thể hiểu: Tích hợp là một hoạt động mà ở đó cần phải kết hợp, liên hệ, huy động các yếu tố, nội dung gần và giống nhau, có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực để giải quyết, làm sáng tỏ vấn đề và cùng một lúc đạt đƣợc nhiều mục tiêu khác nhau.[2] Nhƣ vậy, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, sự hợp nhất, sự hòa nhập các bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất. Dạy học tích hợp (Integrated teaching) là một quan niệm giáo dục toàn diện con ngƣời xuất hiện từ thời kỳ khai sáng (TK XVIII) nhằm chống lại hiện tƣợng phát triển thiếu hài hoà, cân đối. Dạy học tích hợp là định hƣớng dạy học trong đó giáo viên tổ chức, hƣớng dẫn HS biết huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng mới, phát triển những năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề trong học tập và trong cuộc sống.
Dạy học tích hợp cũng có nghĩa là đƣa vào những nội dung giáo dục có liên quan thuộc những môn học, lĩnh vực khác nhau vào quá trình dạy học các môn nhƣ: tích hợp văn học với lịch sử, địa lý, văn hoá, xã hội, đạo đức, lối sống; tích hợp giáo dục công dân với giáo dục pháp luật, chủ quyền quốc gia về biên giới, biển đảo, an toàn giao thông; tích hợp vật lý, hoá học, sinh học với giáo dục sử dụng năng lƣợng tiết kiệm và hiệu quả, bảo vệ môi trƣờng bền vững, chống biến đổi khí hậu, chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ…[27, tr. 30] Nhiều nƣớc tiên tiến trên thế giới nhƣ Mỹ, Anh, Thuỵ Sĩ, Nhật Bản, Hàn Quốc,…đã thực hiện quan điểm tích hợp hiệu quả trong dạy học. Ở Việt Nam, chƣơng trình giáo dục phổ thông mới năm 2018 cho rằng: Dạy học tích hợp là định hƣớng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề 10 trong học tập và trong cuộc sống, đƣợc thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng. 36] Dạy học tích hợp là hành động liên kết các đối tƣợng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng một lĩnh vực hoặc vài lĩnh vực khác nhau trong cùng một kế hoạch dạy học.
383] Dạy học tích hợp là hành động liên kết một cách hữu cơ, có hệ thống các đối tƣợng nghiên cứu, học tập của một vài lĩnh vực môn học khác nhau thành nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối liên hệ về lí luận và thực tiễn đƣợc đề cập trong các môn học đó nhằm hình thành ở HS các năng lực cần thiết. 13] Nói cách khác, quá trình dạy học tích hợp là quá trình dạy học trong đó toàn thể các hoạt động học tập góp phần hình thành ở ngƣời học những năng lực rõ ràng, có dự tính trƣớc những điều cần thiết cho ngƣời học nhằm phục vụ học tập trong tƣơng lai, hoà nhập vào cuộc sống lao động, môi trƣờng sống. Nhƣ vậy, dạy học tích hợp là định hƣớng dạy học giúp học sinh phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, đƣợc thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội kiến thức và rèn luyện kĩ năng; phát triển đƣợc các năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề. Giáo dục hướng nghiệp Có nhiều quan niệm khác nhau về hƣớng nghiệp.
Theo UNESCO: “Hƣớng nghiệp là một quá trình cung cấp cho ngƣời đọc những thông tin về bản thân, về thị trƣờng lao động và định hƣơng cho ngƣời học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp”. Theo Từ điển tiếng Việt, hƣớng nghiệp là thi hành những biện pháp nhằm đảm bảo sự tối ƣu (có chú ý đến năng khiếu, năng lực, thể lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ hợp lý lựa chọn ngành nghề [53, tr. Hƣớng nghiệp là hệ thống các biện pháp giúp đỡ HS làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn, 11 cân nhắc nghề nghiệp với nguyện vọng năng lực sở trƣờng của mỗi ngƣời với nhu cầu và điều kiện thực tế khách quan của xã hội [19, tr. Hƣớng nghiệp là các dịch vụ và hoạt động để hỗ trợ các cá nhân ở bất cứ thời điểm nào trong cuộc đời họ để giúp họ có sự lựa chọn về giáo dục, đào tạo, nghề nghiệp và để quản lý nghề nghiệp của họ.
Các dịch vụ này có thể đƣợc thực hiện ở các trƣờng phổ thông, Cao đẳng, Đại học, trung tâm đào tạo, dịch vụ việc làm, nơi làm việc, trong các lĩnh vực tình nguyện, cộng đồng hay tƣ nhân. (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế - OECD, 2004) Trong cuốn Công tác hướng nghiệp cho các cấp trung học – Từ lý thuyết đến thực hành có ghi nhận: Hƣớng nghiệp trong giáo dục là hệ thống các biện pháp tiến hành trong và ngoài nhà trƣờng để giúp học sinh có kiến thức về nghề nghiệp và có khả năng lựa chọn nghề nghiệp trên cơ sở kết hợp nguyện vọng, sở trƣờng của cá nhân với nhu cầu sử dụng lao động của xã hội [67, tr. Vậy có thể tóm lƣợc chung lại rằng, hƣớng nghiệp là hệ thống biện pháp tác động của nhà nƣớc, tổ chức hoạt động của nhiều cơ quan khác nhau trong xã hội, giúp cho con ngƣời lựa chọn và xác định đƣợc vị trí nghề nghiệp của mình trong cuộc sống. Trong vài năm trở lại đây chúng ta thấy khái niệm giáo dục hƣớng nghiệp xuất hiện với tần suất lớn, lý do là bởi xã hội Việt Nam đang dần nhận thức đƣợc sự quan trọng của việc hƣớng nghiệp cho học sinh, giúp các em có đƣợc sự lựa chọn đúng đắn cho tƣơng lai của mình.
Vậy khái niệm giáo dục hƣớng nghiệp đƣợc hiểu nhƣ thế nào? Có thể hiểu rằng giáo dục hƣớng nghiệp là một quá trình thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau, diễn ra trong toàn bộ quá trình phát triển nghề nghiệp của con ngƣời. Giáo dục hƣớng nghiệp có nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh – những ngƣời chủ nhân tƣơng lai của đất nƣớc. Giáo dục hƣớng nghiệp là một bộ phận của giáo dục toàn diện giúp mỗi học sinh có sự hiểu biết về tính chất của ngành nghề mà mình hƣớng tới, biết phân tích thị trƣờng hoạt động và tháo gỡ vƣớng mắt hoặc rèn luyện bản thân từ 12 đó, mỗi học sinh tự xác định đƣợc đâu là nghề nghiệp phù hợp hoặc không phù hợp với mình. [11] Chƣơng trình giáo dục phổ thông tổng thể đã xác định: “Giáo dục hƣớng nghiệp bao gồm toàn bộ các hoạt động của nhà trƣờng phối hợp với gia đình và xã hội nhằm trang bị kiến thức, hình thành năng lực định hƣớng nghề nghiệp cho học sinh, từ đó giúp học sinh lựa chọn nghề nghiệp phù hợp với năng lực, tính cách, sở thích, quan niệm về giá trị của bản thân, phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của gia đình và phù hợp với nhu cầu của xã hội.
Giáo dục hƣớng nghiệp có ý nghĩa quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện và phân luồng học sinh sau THCS cũng nhƣ sau THPT… Hoạt động GDHN trong nhà trƣờng phổ thông đƣợc thực hiện thƣờng xuyên và liên tục, trong đó tập trung vào các năm cuối của giai đoạn giáo dục cơ bản và toàn bộ thời gian của giai đoạn giáo dục định hƣớng nghề nghiệp”.29] Ngành khoa học Giáo dục học quan niệm: Giáo dục hƣớng nghiệp là một hoạt động của các tập thể sƣ phạm, của các cán bộ thuộc các cơ quan nhà máy khác nhau, đƣợc tiến hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp với năng lực, thể lực và tâm lí của cá nhân với nhu cầu nhân lực của xã hội.