CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng Thống kê trong giáo dục hướng nghiệp 1. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng Thống kê trong giáo dục hướng nghiệp trên thế giới Cùng với lịch sử phát triển kinh tế - xã hội của con người, hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp đã được đề cập từ rất lâu bởi nhiều nhà triết gia lỗi lạc và lịch sử đã ghi nhận chính thống nhiều nghiên cứu có giá trị. Ngay từ năm đầu tiên của thế kỷ thứ I sau công nguyên, khái niệm về hướng nghiệp đã được đề cập đến trong những bài viết của Epictetus, một triết gia Hy Lạp nổi tiếng.
Ông nhận định rằng trước khi chọn nghề thì mọi người nên xem xét khả năng có phù hợp với yêu cầu của nghề hay không. Đây chính là một trong những gốc rễ cơ bản của hướng nghiệp hiện nay. Ở thời Trung cổ, Juan Huartey Navarro (1530-1592) đã viết trong cuốn sách "Examen de los ingenios para las ciencias - Kiểm tra khoa học" năm 1575 về quy tắc để xác định khả năng cá nhân và từ đó chọn nghề phù hợp với khả năng của mình. Tuy vậy, về cơ bản, trước thế kỉ XX, việc nghiên cứu và ứng dụng Thống kê trong GDHN không được chú trọng.
Phần lớn các quy trình lựa chọn ngành nghề dựa trên kinh nghiệm cá nhân nhiều hơn là dựa trên dữ liệu thống kê. Tại Nhật Bản, thuật ngữ hướng nghiệp được đưa ra lần đầu vào khoảng những năm 1912-1928 và được áp dụng vào giảng dạy vào khoảng những năm 1920. Đến năm 1927 “Hiệp hội hướng nghiệp ” được thành lập, đánh dấu mốc quan trọng ở thời điểm đó, khi giới lãnh đạo đất nước, Bộ giáo dục Nhật Bản thấy rõ sự cần thiết của GDHN với thanh thiếu niên, đã yêu cầu các trường tiểu học, trung học cơ sở hỗ trợ tích cực HS trong việc hướng nghiệp. 5 Ở Mỹ, tư vấn hướng nghiệp phát triển vào cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20.
Trong giai đoạn này, việc sử dụng Thống kê trong giáo dục hướng nghiệp đã được tiếp tục phát triển với sự ra đời của các công cụ thống kê phức tạp hơn như mô hình tuyến tính đa biến và mô hình phân loại. Các nghiên cứu tập trung vào việc ước lượng khả năng thành công của học sinh trong từng ngành nghề cụ thể dựa trên các yếu tố như điểm số, sở thích và đặc điểm cá nhân. Năm 1883, nhà tâm lý học Ph. Ganton đã nghiên cứu thử nghiệm (Test) với mục đích lựa chọn nghề.
Frank Parsons (1909) là người đầu tiên công bố khái niệm “hướng nghiệp và giáo dục hướng nghiệp”, ông được coi là cha đẻ của thuật ngữ “hướng nghiệp”. Qua quan sát và thu thập dữ liệu, ông đã tiến hành nghiên cứu xoay quanh cuộc sống của những người thất nghiệp sinh sống trong một nhà tình thương ở Boston. Các kết luận của ông rõ ràng cho thấy sự quan trọng của ba yếu tố sau: - Năng lực bản thân. - Các yêu cầu và điều kiện để thành công trong công việc.
- Mối liên hệ giữa năng lực bản thân và sự thành công trong nghề nghiệp. Chủ đề kiến thức Thống kê khá hoàn thiện và thuận tiện để các nhà nghiên cứu đào sâu ở khắp các lĩnh vực cuộc sống, ngành nghề, giáo dục. Chính vì vậy, chủ đề này sớm được khai thác và đưa vào nghiên cứu trên toàn thế giới, đã có thành quả nghiên cứu nhất định. Giáo sư Gail Fitzsimons từ Đại học Melbourne đã công bố bài báo “Tích hợp toán học, thống kê và công nghệ trong giáo dục nghề nghiệp và nơi làm việc” từ những năm 2001, trong đó, nhấn mạnh khuyến khích và hỗ trợ việc học tập suốt đời, có sử dụng thống kê toán học, để nó có ý nghĩa tự sự trong bối cảnh nơi làm việc.[15] Mới đây, một nghiên cứu của Lucia Zapata-Cardona, giáo sư người Colombia vào năm 2021 về các kĩ năng cần có của GV trong việc xây dựng các 6 mô hình giáo dục thống kê trường học, các mô hình mẫu về triển khai nội dung kiến thức thống kê trong GDHN ở các cấp học nhỏ đã đem lại nhiều lợi ích khi đưa vào triển khai GDHN cho học sinh.
Không chỉ vậy, nghiên cứu còn khẳng định “HS đang trong quá trình phát triển kiến thức thống kê , cũng phát triển nhận thức với tư cách là những công dân phản biện” [17]. Không chỉ là các bài báo của các nghiên cứu viên, mà trên các tạp chí giáo dục uy tín như Tes magazine cũng có nhiều bài viết về “Cách thức kết hợp toán với giáo dục định hướng nghề nghiệp của học sinh”, khi “học sinh của mình bước ra khỏi bài học với niềm say mê về khả năng có được sự nghiệp trong ngành công nghiệp sáng tạo. Đó không phải là mục tiêu mà các GV có thể chia sẻ - nhưng đó là điều GV muốn thay đổi” [16]. Khi các phần mềm xử lí số liệu thống kê nở rộ và phát triển mạnh mẽ thì việc tiếp cận và biết đến nhiều phần mềm hữu hiệu trở nên đơn giản hơn nhiều.
Một số phần mềm thông dụng như Excel, R, SPSS đang được phổ cập không chỉ cho nghiên cứu sinh mà cả GV, học sinh đang dần được tiếp cận nhiều hơn. Một nghiên cứu mới đây được công bố bởi Đại học New York đã cho nhận xét tương quan về việc sử dụng phần mềm nào là hữu hiệu và thiết thực đối với từng đối tượng (học sinh, sinh viên, nghiên cứu viên). Từ đó cho ta kinh nghiệm trong việc triển khai khai thác yếu tố kiến thức thống kê này trong nhà trường phổ thông. Tổng quan, lịch sử nghiên cứu và ứng dụng Thống kê trong giáo dục hướng nghiệp trên thế giới đã trải qua sự phát triển vượt bậc từ việc sử dụng phương pháp thống kê cơ bản đến sử dụng công nghệ thông tin và dữ liệu lớn để tạo ra các ứng dụng tự động trong việc lựa chọn ngành nghề.
Thống kê đã giúp cung cấp thông tin quan trọng cho học sinh và nhà quản lý giáo dục để hỗ trợ lựa chọn ngành nghề và phát triển hướng nghiệp. Lịch sử nghiên cứu và ứng dụng Thống kê trong giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam Không ai có thể phủ nhận tầm quan trọng của GDHN trong nhà trường phổ thông, chính vì lẽ đó, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế khai thác và đi sâu vấn đề này. Đặc thù môi trường giáo dục ở Việt Nam nói riêng, cũng như các nước đang phát triển nói chung có những mặt lợi, hại nhất định để triển khai cách thức phổ cập GDHN ở các nước tiên tiến. Giáo dục hướng nghiệp ở nước ta đã tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ những năm 70 của thế kỉ trước, ngay khi đất nước thống nhất.
Cơ sở lý luận và thực tiễn giáo dục học nghề của Việt Nam chủ yếu được xây dựng dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn của Liên Xô. Với sự tiếp thu tư tưởng và cơ sở lí luận ấy, một lớp các tác gia gắn liền với giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam là Phạm Tất Dong, Nguyễn Minh Đường, Đặng Danh Ánh. Theo Nghị quyết về cải cách giáo dục năm 1979 của Bộ Chính trị, việc định hướng nghiệp đã được xác định là một phần không thể thiếu trong quá trình giáo dục. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ, về công tác hướng nghiệp trong trường phổ thông và việc sử dụng hợp lý của học sinh tốt nghiệp THCS và THPT ra trường, đã tạo ra cơ sở pháp lý và định hướng quan trọng cho sự phát triển của công tác hướng nghiệp, đặc biệt là trong việc định hướng nghề nghiệp cho học sinh THPT.
Trong thời kỳ từ 1980 đến 1990, đã triển khai quản lý công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trong hệ thống giáo dục phổ thông theo kế hoạch và chương trình của Bộ Giáo dục - Đào tạo. Mục tiêu là để phân luồng học sinh tốt nghiệp các cấp trường trung học cơ sở và trung học phổ thông sau khi tốt nghiệp. Trong những năm gần đây, công tác giáo dục hướng nghiệp ở trường trung học phổ thông đã nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu. Có nhiều tác giả đã nghiên cứu vấn đề này từ nhiều góc độ khác nhau, bao gồm 8 Phạm Tất Dong, Phạm Minh Hạc, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Như Ất, Phạm Huy Thụ, Đoàn Chi,.
Các nghiên cứu của các tác giả này tập trung vào cơ sở lý luận và thực tiễn của quản lý hoạt động hướng nghiệp, với mục đích, ý nghĩa, nội dung và hình thức tổ chức giáo dục hướng nghiệp cho học sinh phổ thông. Phạm Tất Dong là người có đóng góp lớn nhất cho sự phát triển của giáo dục hướng nghiệp ở Việt Nam. Ông đã nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn của hoạt động hướng nghiệp, hứng thú nghề nghiệp, cũng như các vấn đề liên quan đến nội dung và phương pháp hướng nghiệp cho học sinh và thanh niên. Trong một nghiên cứu, ông đã xác định rằng "Trong những người không kiếm ra được việc làm, 85,8 % là thanh niên.
Trong tổng số thanh niên đứng ngoài việc làm, 67,4 % là không biết nghề”[12] .Trên cơ sở đó tác giả đã xác định cần: “Chú trọng việc hình thành những năng lực nghề nghiệp cho thế hệ trẻ để tự tìm ra việc làm”, đồng thời: “Tiếp sau quá trình hướng nghiệp, dứt khoát phải dạy nghề cho học sinh… đây là một nguyên tắc rất cơ bản” .Thông qua nghiên cứu “những vấn đề mới đặt ra trước yêu cầu nâng cao hiệu quả công tác hướng nghiệp hiện nay[13]”, tác giả đã đề nghị thiết lập một hệ thống GDHN từ bậc tiểu học với thời lượng tăng dần ở các năm sau đó. Phạm Tất Dong đã đề xuất một số biện pháp cụ thể để cải thiện quản lý hoạt động GDHN. Trong số đó, tác giả khuyến khích việc giao nhiệm vụ GDHN cho các giáo viên, thúc đẩy đổi mới chương trình GDHN, và tăng cường trải nghiệm học tập bằng cách kết hợp các buổi tham quan sản xuất và giao lưu với những nhân vật tiêu biểu trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, tác giả cũng đề xuất việc huy động cha mẹ học sinh và các tổ chức kinh tế - xã hội để tham gia vào hoạt động GDHN, nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sự phát triển nghề nghiệp của học sinh phổ thông Việt Nam.
Những đề xuất này được ông trình bày trong bài viết "Hướng nghiệp cho thanh niên" vào năm 1982.