CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TRẠNG DẠY HỌC CÁC BÀI VỀ LÍ LUẬN VĂN HỌC 1. Định hướng đổi mới phương pháp dạy học 1. Định hướng chung 1. Phương pháp dạy học Phương pháp chính là cách thức làm việc của chủ thể, cách thức này tuỳ thuộc vào nội dung vì '' phương pháp là sự vận động bên trong của nội dung'' (Hêghen) PPDH bao gồm phương pháp dạy và phương pháp học.
Phương pháp dạy là phương pháp tổ chức nhận thức, phương pháp điều khiển các hoạt động trí tuệ và thực hành, phương pháp giáo dục ý thức và thái độ đúng đắn cho HS. Phương pháp học là phương pháp nhận thức và rèn luyện để hình thành hệ thống tri thức và kĩ năng thực hành, hình thành nhân cách người học. Hai phương pháp này không tồn tại độc lập, tách rời nhau mà nó liên quan và phụ thuộc nhau, có thể nói chúng vừa là mục đích vừa là nguyên nhân tồn tại của nhau. Theo định nghĩa của Từ điển Bách khoa sư phạm: ''PPDH là cách thức làm việc của GV và HS, nhờ đó HS nắm được kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển năng lực của mình'' .Lerner cho rằng : ''PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của GV nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của HS, đảm bảo cho HS lĩnh hội nội dung học vấn".
Nhà nghiên cứu Yu.Babanxkij giải thích :'' PPDH là cách thức tương tác giữa GV và HS nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học". Tác giả Hoàng Hoà Bình - Nguyễn Minh Thuyết định nghĩa :'' PPDH (tiếng Nga: metod; tiếng Anh: method) là cách thức hành động chung nhất của 6 z GV trong giờ học nhằm tổ chức cho HS chiếm lĩnh đối tượng học tập và hoàn thành mục tiêu của giờ học". Nói chung PPDH là lĩnh vực khá đa dạng, có nhiều quan niệm, quan điểm khác nhau về PPDH. Có thể khái quát lại, PPDH là cách thức hoạt động( bao gồm các hành động và thao tác) của GV và HS với những điều kiện dạy học cụ thể nhằm đạt được mục tiêu dạy học.
Đó cũng là con đường chung mà thầy và trò cùng đi tới với sự dìu dắt tận tình của thầy và sự tự tin vững bước của trò. Đặc điểm của PPDH: - Tính khách quan và chủ quan của PPDH: Tính khách quan thể hiện ở mọi PPDH đều xuất phát từ đối tượng, đặc điểm, quy luật vận động, cấu trúc của đối tượng. Đối tượng của PPDH vừa là nội dung dạy học vừa là người học. Tính chủ quan của PPDH do các chủ thể của GV và HS tiến hành.
Hiệu quả của PPDH phụ thuộc vào năng lực của người sử dụng. Do đó, sự nhuần nhuyễn, linh hoạt và sáng tạo tích cực trong việc sử dụng PPDH là yếu tố quyết định hiệu quả dạy học. - Tính mục đích của PPDH: PPDH chịu sự quy định của mục đích và nội dung dạy học. Thực chất PPDH là phương thức để đạt được mục đích.
Vì thế mỗi mục đích dạy học đòi hỏi PPDH tương ứng và mỗi PPDH bao giờ cũng hướng tới đạt mục đích cụ thể nào đó. Không có một PPDH nào lại đạt được tất cả các mục đích. Mỗi PPDH giúp HS đạt được trình độ năng lực nhất định. Việc xác định mục đích hình thành năng lực ở HS để chọn PPDH phù hợp là điều quan trọng.
- PPDH gắn liền với nội dung dạy học. - PPDH gắn liền với đặc điểm đối tượng và hình thức tổ chức lớp học. PPDH có ba bình diện: 7 z - Bình diện vĩ mô là quan điểm về PPDH: Quan điểm dạy học là những định hướng tổng thể cho các hành động, phương pháp, có sự kết hợp giữa các nguyên tắc dạy học, những cơ sở lí luận dạy học, điều kiện tổ chức dạy học, định hướng về vai trò của GV và HS trong quá trình dạy học. Bởi vậy, có thể coi quan điểm dạy học là những định hướng mang tính chiến lược của PPDH.
- Bình diện trung gian là PPDH cụ thể: Đó là những hình thức, cách thức hoạt động của GV và HS nhằm thực hiện những mục tiêu dạy học xác định, phù hợp với nội dung và điều kiện dạy học cụ thể. - Bình diện vi mô là kĩ thuật dạy học: Đó là những biện pháp, cách thức hành động của GV trong các tình huống nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển tốt quá trình dạy học. Các kĩ thuật dạy học là thành phần của PPDH. Quan điểm dạy học là khái niệm rộng, định hướng cho việc lựa chọn các PPDH cụ thể.
Các PPDH là khái niệm hẹp hơn, đưa ra mô hình hành động, và kĩ thuật dạy học là khái niệm hẹp nhất, thực hiện các tình huống hành động. Tính tích cực học tập của học sinh Chủ nghĩa duy vật lịch sử xem tính tích cực là một phẩm chất vốn có của con người trong đời sống xã hội. Với giáo dục, có thể xem tính tích cực như một điều kiện, đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách của HS. Tính tích cực của HS biểu hiện trong những dạng hoạt động khác nhau: học tập, lao động, thể dục, thể thao,.
Học tập là một trường hợp riêng của nhận thức. Vì vậy nói đến tính tích cực học tập, thực chất là nói tới tính tích cực nhận thức. Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động nhận thức của HS đặc trưng ở khát vọng học tập, cố gắng trí tụê và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức. HS sẽ thông hiểu và ghi nhớ những gì thông qua hoạt động nhận thức tích cực của mình, trong đó các em phải có những cố gắng trí tuệ.
Thái Duy Tuyên, tính tích cực hoá học tập là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển 8 z biến vị trí của người học từ thụ động sang chủ động, từ đối tượng tiếp nhận tri thức sang chủ thể tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập. Tính tích cực của HS có mặt tự phát và mặt tự giác. Mặt tự phát của tính tích cực là yếu tố tiềm ẩn, bẩm sinh, thể hiện ở tính tò mò, hiếu kì, hiếu động, linh hoạt và sôi nổi trong hành vi ở HS đều có, trong mức độ khác nhau cần coi trọng những yếu tố tự phát này, cần nuôi dưỡng, phát triển chúng trong dạy học. Mặt tự giác trong tính tích cực là trạng thái tâm lí, tính tích cực có mục đích và đối tượng rõ rệt, do đó có hoạt động để chiếm lĩnh đối tượng.
Tính tích cực tự giác thể hiện ở óc quan sát, tính phê phán trong tư duy, trí tò mò khoa học.Có nhiều trường hợp, tính tích cực học tập thể hiện ở sự tích cực bên ngoài mà không phải trong tư duy. Đó là điều GV cần lưu tâm khi đánh giá tính tích cực nhận thức của HS. Nhà nghiên cứu G.Sukina khái quát những dấu hiệu của tính tích cực hoạt động trí tuệ của HS như sau: - HS hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thích cặn kẽ những vấn đề GV trình bày nhưng HS chưa hiểu rõ. - HS chủ động vận dụng linh hoạt những kiến thức, kĩ năng đã học để nhận thức các vấn đề mới.
- HS mong muốn được đóng góp với thầy, với bạn những thông tin mới lấy từ những nguồn khác nhau có khi vượt ngoài phạm vi bài học, môn học. - Ngoài ra, tính tích cực của HS còn biểu hiện qua những mặt xúc cảm như thờ ơ hay hào hứng, phớt lờ hay ngạc nhiên, hoan hỉ hay buồn chán trước một nội dung nào đó của bài học. Những dấu hiệu này biểu hiện khác nhau ở từng cá thể HS, bộc lộ rõ ở các lớp HS bé, kín đáo ở các HS lớp trên. Về mặt ý chí, tính tích cực học tập của HS biểu hiện ở sự tập trung chú ý vào vấn đề đang 9 z học; kiên trì làm xong các bài tập; không nản lòng trước những tình huống khó khăn; thái độ phản ứng khi trống báo hết tiết học: tiếc rẻ, cố làm xong hoặc vội vàng gấp vở chờ lệnh ra chơi.
Thái Duy Tuyên đã đưa ra một số gợi ý giúp GV có thể phát hiện được HS học tập tích cực hay không, dựa vào những biểu hiện sau: - Các em có chú ý học tập không? - Có hăng hái tham gia vào mọi hình thức của hoạt động học tập không? (thể hiện ở chỗ giơ tay phát biểu ý kiến, ghi chép.) - Có hoàn thành nhiệm vụ được giao hay không? - Có ghi nhớ tốt những điều được học hay không? - Có hiểu bài không? Có thể trình bày lại nội dung bài học theo ngôn ngữ riêng không? - Có vận dụng được những kiến thức đã học vào thực tiễn không? - Có đọc thêm, làm thêm các bài tập khác không? - Tốc độ học tập có nhanh không? - Có hứng thú trong học tập không hay vì một ngoại lực nào đó mà phải học. - Có quyết tâm, có ý chí vượt khó khăn trong học tập không? - Có sáng tạo trong học tập không? Tính tích cực của HS tuy nảy sinh trong quá trình học tập nhưng nó lại là kết quả của nhiều nguyên nhân: có những nguyên nhân phát sinh lúc học tập, có nguyên nhân được hình thành từ quá khứ, thậm chí từ lịch sử lâu dài của nhân cách. Nhìn chung, tính tích cực nhận thức phụ thuộc ở những yếu tố : hứng thú, nhu cầu, năng lực, ý chí, sức khoẻ, môi trường. Trong những nhân tố này, ta thấy 10 z có những nhân tố hình thành ngay nhưng có những nhân tố chỉ được hình thành qua một quá trình lâu dài dưới ảnh hưởng của nhiều tác động.
Như vậy, việc tích cực hoá hoạt động của HS đòi hỏi phải có một kế hoạch lâu dài và toàn diện khi phối hợp hoạt động gia đình, nhà trường và xã hội. Trong các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực nhận thức của HS cần phải chú ý đến yếu tố quan trọng là hứng thú. Từ lâu, các nhà sư phạm đã quan tâm đến vai trò của hứng thú nhận thức trong quá trình dạy học. Cômenxki xem tạo hứng thú là một trong các con đường chủ yếu để ''làm cho học tập trong nhà trường trở thành nguồn vui''.J Rutxo dựa trên hứng thú của HS đối với sự vật xung quanh để xây dựng cách dạy phù hợp cho HS.Usinxki xem hứng thú là một cơ chế bên trong, đảm bảo học tập có hiệu quả.
Điuay cho rằng việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, muốn vậy phải để cho HS độc lập tìm tòi, GV chỉ là người tổ chức, thiết kế, cố vấn.