CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ LƯU VỰC HỒ XUYÊN MỘC 1.1 TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU 1.1 Điều kiện tự nhiên a) Vị trí địa lý Bà Rịa -Vũng Tàu là cửa ngõ phía Đông của Sài Gòn - Gia Định và miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng trọng điểm kinh tế phía Nam. Phần đất liền của Bà Rịa-Vũng Tàu được xác định trên toạ độ địa lý từ 10o20' đến 10o45' vĩ Bắc và từ 107o đến 107o35' Kinh Đông. Bà Rịa - Vũng Tàu có địa giới hành chính: + Phía Tây giáp với thành phố Hồ Chí Minh dài 16. + Phía Bắc giáp với Đồng Nai dài 116.
+ Phía Đông giáp với Bình Thuận dài 29. + Phía Nam và Tây Nam giáp với biển Đông. Lãnh thổ của tỉnh gồm hai phần: đất liền và hải đảo. Quần đảo Côn Lôn với tên thường gọi là Côn Đảo bao gồm 16 hòn đảo cách Vũng Tàu 97 hải lý.
Chiều dài bờ biển là 305.4 km với trên 100000 km2 thềm lục địa. Bà Rịa - Vũng Tàu có 5 huyện, trong đó có 1 huyện đảo, 1 thành phố và 1 thị xã[3]. b) Đặc điểm địa hình đất đai và tình hình sử dụng đất Địa hình tỉnh có thể chia làm 4 vùng: + Bán đảo: Bán đảo Vũng Tàu dài và hẹp diện tích 82.86 km², độ cao trung bình khoảng từ 3-4m so với mặt biển. + Hải đảo: Hải đảo bao gồm quần đảo Côn Lôn và đảo Long Sơn.
+ Vùng đồi núi bán trung du: Vùng đồi núi bán trung du nằm ở phía Bắc và Đông Bắc tỉnh phần lớn ở thị xã Phú Mỹ và các huyện Châu Đức, Xuyên Mộc. + Vùng thung lũng đồng bằng ven biển: Ở vùng này có vùng thung lũng đồng bằng ven biển bao gồm một phần đất của thị xã Phú Mỹ và các huyện Long Điền, Bà Rịa, Đất Đỏ. Khu vực này có những đồng lúa nước xen lẫn những vạt đôi thấp và rừng thưa có những bãi cát ven biển. Thềm lục địa rộng trên 100000 km².
Địa hình toàn vùng phần đất liền có xu hướng dốc ra biển. Tuy nhiên ở sát biển vẫn có một số núi cao. Núi có độ cao lớn nhất chỉ khoảng 500 m. Phần đất liền (chiếm 5 96% diện tích của tỉnh) thuộc bậc thềm cao nguyên Di Linh – vùng Đông Nam Bộ, độ nghiêng từ Tây Bắc xuống Đông Nam, giáp biển Đông, Quần đảo Côn Đảo (chiếm 4% diện tích của tỉnh) gồm 16 đảo lớn nhỏ, trong đó đảo Côn Sơn có diện tích lớn nhất rộng 57.5 km2 cách Vũng Tàu 180 km.
Toàn tỉnh có hơn ¾ diện tích đồi núi, thung lũng thấp có trên 50 ngọn núi cao 100 m trở lên khi ra biển tạo thành nhiều vũng, vịnh, mũi, bán đảo, đảo. Độ cao trên 400 - 500 m có núi Ông Trịnh, núi Chúa, núi Thánh Giá. Địa hình tập trung vào 4 loại đặc trưng (đồng bằng hẹp, các núi, gò đồi, thềm lục địa)[3]. c) Đặc điểm khí hậu-khí tượng Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, một năm chia hai mùa rõ rệt: + Mùa mưa bắt đầu từ tháng 5 đến tháng 10, thời gian này có gió mùa Tây Nam.
+ Mùa khô bắt đầu từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, thời gian này có gió mùa Đông Bắc. Nhiệt độ trung bình hàng năm là 27°C, tháng thấp nhất khoảng 24.8°C, tháng cao nhất khoảng 28. Sự thay đổi nhiệt độ của các tháng trong năm không lớn. Độ ẩm trung bình trên 80%.
Số giờ nắng trong năm dao động trong khoảng 2370 – 2850 giờ và phân phối đều các tháng trong năm. Lượng mưa trung bình hàng năm thấp (khoảng 1600 mm) và phân bố không đều theo thời gian tạo thành hai mùa rõ rệt mùa mưa chiếm 90% lượng mưa cả năm; và 10% tổng lượng mưa tập trung vào mùa khô. Bà Rịa-Vũng Tàu nằm trong vùng ít có bão, không có mùa đông nên có thể thực hiện các chuyến nghỉ ngơi, du lịch cả năm[3]. d) Đặc điểm thủy văn Đối với lưu vực như Hồ Xuyên Mộc nguồn duy nhất sinh ra dòng chảy trên lưu vực là lượng mưa hằng năm.
Phân bố dòng chảy cũng phân hoá mạnh mẽ theo thời gian trong năm phụ thuộc vào diễn biến của lượng mưa và các yếu tố khí hậu khác tạo nên sự tương phản sâu sắc và hình thành 2 mùa dòng chảy là mùa lũ và mùa cạn đối lập nhau[2].2 Tình hình dân sinh kinh tế a) Bản đồ hành chính Hình 1.1: Bản đồ hành chính tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu[3] b) Dân cư, dân số Tính đến năm 2016 dân số toàn tỉnh đạt gần 1150200 người, mật độ dân số đạt 516 người/km². Dân số nam đạt 513410 người, trong khi đó nữ đạt 513800 người. Tỷ lệ tăng tự nhiên dân số phân theo địa phương tăng 8.9 ‰, 53% dân số sống ở đô thị và 47% dân số sống ở nông thôn. Mỗi năm tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu tăng thêm khoảng 30000 dân (chủ yếu là dân từ các tỉnh thành khác đến sinh sống).
Theo thống kê của tổng cục thống kê Việt Nam tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2009 trên địa bàn toàn tỉnh có 28 dân tộc và người nước ngoài cùng sinh sống. Trong đó người kinh đông nhất với 972095 người tiếp sau đó là người Hoa có 10042 người đông thứ ba là người Chơ Ro với 7632 người, người Khơ Me chiếm 2878 người, người Tày có 1352 người, cùng một số dân tộc ít người khác như người Nùng có 993 người, người Mường có 693 người, người Thái có 230 người, ít nhất là các dân tộc như Người Xơ Đăng, Hà Nhì, Chu Ru, Cờ Lao mỗi dân tộc chỉ có một người, người nước ngoài thì có 59 người[3].1: Thống kê diện tích, dân số, mật độ dân số của các đơn vị hành chính cấp Huyện Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu[3] Ðơn vị Thành Thị Thành Huyện Huyện Huyện Huyện hành phố xã Huyện phố Châu Côn Long Xuyên chính cấp Vũng Phú Đất Đỏ Bà Rịa Đức Đảo Điền Mộc Huyện Tàu Mỹ Diện tích 91.356 (người) (2011) (2016) (2018) (2009) (2014) (2011) (2011) (2011) Mật độ dân số 1.825 253 404(2011) (người/k (2011) (2016) (2018) (2009) (2014) (2011) (2011) m²) c) Kinh tế Bà Rịa - Vũng Tàu thuộc Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, hoạt động kinh tế của tỉnh trước hết phải nói về tiềm năng dầu khí. Bà Rịa-Vũng Tàu là nơi hội tụ nhiều tiềm năng để phát triển như: có 93% tổng trữ lượng dầu mỏ và 16% tổng trữ lượng khí thiên nhiên của cả nước được Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng hệ thống cảng biển quốc gia và quốc tế hiện đại nằm trong vùng trọng điểm của Chương trình du lịch quốc gia. Ngoài lĩnh vực khai thác dầu khí, Bà Rịa - Vũng Tàu còn là một trong những trung tâm năng lượng, công nghiệp nặng, du lịch, cảng biển của cả nước.
Trung tâm điện lực Phú Mỹ và Nhà máy điện Bà Rịa chiếm 40% tổng công suất điện năng của cả nước (trên 4000 MW trên tổng số gần 10000 MW của cả nước). Công nghiệp nặng có: sản xuất phân đạm urê (800000 tấn năm), sản xuất polyetylen (100000 tấn/năm), sản xuất clinker, sản xuất thép … + Về lĩnh vực cảng biển: kể từ khi chính phủ có chủ trương di dời các cảng tại nội ô Thành phố Hồ Chí Minh, Bà Rịa - Vũng Tàu trở thành trung tâm cảng biển chính 8 của khu vực Đông Nam Bộ thuộc nhóm cảng biển số 05 bao gồm: TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bà Rịa - Vũng Tàu. Các cảng lớn tập trung chủ yếu trên sông Thị Vải, cảng Sài Gòn và Nhà máy Ba Son đang di dời và xây dựng cảng biển lớn tại đây, sông Thị Vải có luồng sâu 15m đảm bảo các tàu container trên 100.000 tấn đã có thể cập cảng Bà Rịa - Vũng Tàu đi thẳng sang các nước châu Âu, châu Mỹ. Tính đến nay toàn tỉnh có 24/52 cảng đã đi vào hoạt động các cảng còn lại đang trong quá trình quy hoạch và xây dựng.
Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là cửa ngõ giao thương của khu vực Miền Nam và Việt Nam (nằm gần đường hàng hải quốc tế và là tỉnh có nhiều cảng biển nhất Việt Nam.) + Về lĩnh vực du lịch: Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là một trong những trung tâm du lịch hàng đầu của cả nước. Nổi tiếng đẹp nhất thành phố Vũng Tàu là bãi biển Thuỳ Vân hay còn gọi là Bãi Sau nằm ở đường Thuỳ Vân. Dọc bờ biển Long Hải Xuyên Mộc có nhiều bãi biển đẹp và khu du lich lớn: Hồ Tràm, Vietso resort. Khu du lịch Nghinh Phong.
Trong những năm gần đây tỉnh luôn đứng trong tốp những địa phương thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất tại Việt Nam. Nằm ở vị trí thứ 4 về việc đóng góp ngân sách nhà nước sau TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội và Hải Phòng. Cơ cấu kinh tế Bà Rịa-Vũng Tàu (năm 2012): công nghiệp – xây dựng 69.5% và nông lâm ngư nghiệp 5.2 HUYỆN XUYÊN MỘC 1.1 Địa lý Huyện Xuyên Mộc nằm ở phía Đông Bắc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, là một huyện nằm ở vị trí địa lý vô cùng quan trọng, vốn là vùng địa đầu của miền Đông Nam Bộ nối liền với cực Nam Trung Bộ. + Phía Tây và Tây Bắc giáp huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai.
+ Phía Đông giáp huyện Hàm Tân, tỉnh Bình Thuận. + Phía Nam giáp biển Đông. + Phía Tây giáp huyện Châu Đức, Tây Nam giáp huyện Đất Đỏ. Xuyên Mộc là một huyện có diện tích lớn nhất tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu khoảng 64218 km² với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú và đa dạng đã và đang được tiến hành khai thác để trở thành các nguồn lợi kinh tế[4].2 Hành chính Từ đầu năm 2003 toàn huyện có 13 đơn vị hành chính gồm: + 1 thị trấn: Phước Bửu + 12 xã: Bàu Lâm, Bình Châu, Bông Trang, Bưng Riềng, Hòa Bình, Hòa Hiệp, Hòa Hội, Hòa Hưng, Phước Tân, Tân Lâm, Phước Thuận, Xuyên Mộc[4].2: Bản đồ hành chính huyện Xuyên Mộc[4] 1.3 Dân số Dân số toàn huyện cuối năm 2002 khoảng 128 ngàn người, 130.200 người (2003) đến năm 2011 là 162356 người.
Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên khoảng 1.4 Hồ Xuyên Mộc Hồ chứa Xuyên Mộc được xây dựng vào năm 1984 nằm trong trung tâm đô thị của thị trấn Phước Bửu và giữa giao lộ của tỉnh lộ 328 và quốc lộ 55 thuộc huyện Xuyên Mộc của tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Hồ Xuyên Mộc có diện tích lưu vực F=15.4 km2 có nhiệm vụ cung cấp nước tưới cho 350 ha đất canh tác và khoảng 150 ha đất đầm tôm. Khu vực hưởng lợi có ảnh hưởng trực tiếp nằm ở phía hạ du công trình với dân số khoảng 967 người, đa số sống bằng nông nghiệp[2].