Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Hóa vô cơ

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ khoa học

2013

67
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giới thiệu về vật liệu

1.2. Vật liệu xây dựng truyền thống

1.2.1. Lò thủ công truyền thống

1.2.2. Lò nung Tuynel

1.3. Vật liệu xây dựng nhẹ không nung

1.4. Tình hình sản xuất gạch siêu nhẹ không nung ở Việt Nam

1.5. Giới thiệu tổng quát về chất thải điện tử

1.5.1. Định nghĩa về chất thải điện tử (E - Waste)

1.5.2. Thành phần vật chất của chất thải điện - điện tử

1.5.2.1. Thành phần vật chất có giá trị
1.5.2.2. Thành phần vật chất gây nguy hại

1.5.3. Hiện trạng phát sinh chất thải điện tử ở Việt Nam

1.5.4. Tình hình thu gom và xử lý rác thải điện tử ở Việt Nam

1.6. Bóng đèn huỳnh quang và nguồn phát thải

1.6.1. Cấu tạo của bóng đèn huỳnh quang

1.6.2. Nguồn phát sinh rác

1.6.3. Tính chất của thủy tinh bóng đèn huỳnh quang

1.7. Giới thiệu công nghệ sản xuất gạch bê tông xốp siêu nhẹ

2. CHƯƠNG 2: THỰC NGHIỆM VÀ CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Các phương pháp nghiên cứu

2.1.1. Phương pháp nhiễu xạ tia X (XRD)

2.1.2. Phương pháp kính hiển vi điện tử quét (SEM – Scanning Electron Microscope)

2.2. Hệ số dẫn nhiệt

2.3. Cường độ kháng nén

2.4. Khối lượng riêng

2.5. Dụng cụ, thiết bị và hóa chất

2.5.1. Nguyên liệu và hóa chất

2.5.2. Dụng cụ và thiết bị

2.6. Các công đoạn chính của quá trình thực nghiệm

2.6.1. Chuẩn bị phối liệu, dụng cụ

2.6.1.1. Chuẩn bị nguyên liệu
2.6.1.2. Khuấy trộn đồng nhất nguyên liệu
2.6.1.3. Chuẩn bị khuôn đổ mẫu

2.6.2. Gia công và hoàn thiện mẫu

2.6.2.1. Thực nghiệm chi tiết
2.6.2.1.1. Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian nghiền đến kích thước hạt thủy tinh
2.6.2.1.2. Khảo sát sự ảnh hưởng của tỷ lệ lỏng/rắn (L/R)
2.6.2.1.3. Khảo sát sự ảnh hưởng của Natri claurinsulfat tới các tính chất của vật liệu
2.6.2.1.4. Khảo sát sự ảnh hưởng của tỷ lệ xi măng/bột thủy tinh đối tính chất vật liệu
2.6.2.1.5. Khảo sát sự ảnh hưởng của tốc độ khuấy tới sự hình thành mẫu vật liệu
2.6.2.1.6. Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian khuấy tới các tính chất của vật liệu
2.6.2.1.7. Khảo sát sự ảnh của cấp hạt thủy tinh đến các tính chất của vật liệu
2.6.2.1.8. Khảo sát sự ảnh hưởng của tro bay đến các tính chất của vật liệu
2.6.2.1.9. Khảo sát sự ảnh hưởng của Natri silicat đến các tính chất của vật liệu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

3.1. Khảo sát ảnh hưởng của thời gian nghiền đến kích thước của bột thủy tinh

3.2. Khảo sát sự ảnh hưởng của tỷ lệ lỏng/rắn (L/R)

3.3. Khảo sát sự ảnh hưởng của Natri claurinsulfat tới các tính chất của vật liệu

3.4. Khảo sát sự ảnh hưởng của tỷ lệ xi măng/bột thủy tinh đối với tính chất mẫu

3.5. Khảo sát sự ảnh hưởng của tốc độ khuấy tới sự hình thành vật liệu

3.6. Khảo sát sự ảnh hưởng của thời gian khuấy tới các tính chất của vật liệu

3.7. Khảo sát sự ảnh của cấp hạt thủy tinh đến các tính chất của vật liệu

3.8. Khảo sát sự ảnh hưởng của tro bay đến các tính chất của vật liệu

3.9. Khảo sát sự ảnh hưởng của Natri silicat đến các tính chất của vật liệu

3.10. Nghiên cứu tính chất của mẫu vật liệu

3.10.1. Nghiên cứu tính chất của mẫu vật liệu bằng phương pháp XRD

3.10.2. Nghiên cứu tính chất của mẫu vật liệu bằng phương pháp SEM

3.11. Xác định các thông số vật lý

3.11.1. Cường độ kháng nén Rn (Kg/cm2)

3.11.2. Hệ số dẫn nhiệt λ Kcal/m.h

KẾT LUẬN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về thủy tinh từ chất thải điện tử trong xây dựng

Thủy tinh từ chất thải điện tử đang trở thành một nguồn tài nguyên quý giá trong ngành xây dựng. Với sự gia tăng của chất thải điện tử, việc tái chế và sử dụng thủy tinh từ các thiết bị này không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn cung cấp một vật liệu nhẹ, bền vững cho ngành xây dựng. Nghiên cứu cho thấy, thủy tinh từ chất thải điện tử có thể được sử dụng để sản xuất các loại vật liệu nhẹ không nung, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về vật liệu xây dựng thân thiện với môi trường.

1.1. Định nghĩa và thành phần của chất thải điện tử

Chất thải điện tử (E-waste) bao gồm các thiết bị điện và điện tử đã qua sử dụng, không còn giá trị sử dụng. Thành phần chính của chất thải điện tử bao gồm kim loại, nhựa và thủy tinh. Trong đó, thủy tinh từ màn hình CRT và bóng đèn huỳnh quang là những nguồn chính có thể tái chế để sản xuất vật liệu xây dựng.

1.2. Tình hình phát sinh chất thải điện tử ở Việt Nam

Việt Nam đang đối mặt với một lượng lớn chất thải điện tử do sự phát triển nhanh chóng của công nghệ. Theo thống kê, lượng chất thải điện tử phát sinh hàng năm đang gia tăng đáng kể, gây áp lực lên hệ thống xử lý rác thải. Việc tái chế thủy tinh từ chất thải điện tử không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm mà còn tạo ra cơ hội cho ngành xây dựng.

II. Vấn đề và thách thức trong việc tái chế thủy tinh từ chất thải điện tử

Mặc dù việc tái chế thủy tinh từ chất thải điện tử mang lại nhiều lợi ích, nhưng vẫn tồn tại nhiều thách thức. Một trong những vấn đề lớn nhất là quy trình thu gom và xử lý chất thải điện tử chưa được thực hiện hiệu quả. Nhiều thiết bị điện tử vẫn chưa được thu gom đúng cách, dẫn đến việc lãng phí nguồn tài nguyên quý giá. Hơn nữa, việc xử lý thủy tinh từ chất thải điện tử cũng gặp khó khăn do sự hiện diện của các chất độc hại.

2.1. Quy trình thu gom và xử lý chất thải điện tử

Quy trình thu gom chất thải điện tử ở Việt Nam còn nhiều bất cập. Nhiều người tiêu dùng chưa có ý thức trong việc xử lý thiết bị điện tử hỏng. Điều này dẫn đến việc chất thải điện tử bị vứt bỏ không đúng cách, gây ô nhiễm môi trường. Cần có các chính sách và chương trình giáo dục để nâng cao nhận thức của cộng đồng.

2.2. Các chất độc hại trong thủy tinh từ chất thải điện tử

Thủy tinh từ chất thải điện tử có thể chứa các kim loại nặng và hợp chất độc hại như chì, thủy ngân. Những chất này có thể gây hại cho sức khỏe con người và môi trường nếu không được xử lý đúng cách. Việc phát triển công nghệ tái chế an toàn và hiệu quả là rất cần thiết để giảm thiểu rủi ro này.

III. Phương pháp tái chế thủy tinh từ chất thải điện tử

Để tận dụng thủy tinh từ chất thải điện tử, cần áp dụng các phương pháp tái chế hiệu quả. Các công nghệ hiện đại như nghiền, phân loại và nung chảy có thể được sử dụng để biến thủy tinh thành nguyên liệu xây dựng. Việc nghiên cứu và phát triển các quy trình tái chế mới sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng thủy tinh trong sản xuất vật liệu nhẹ.

3.1. Công nghệ nghiền và phân loại thủy tinh

Công nghệ nghiền và phân loại thủy tinh là bước đầu tiên trong quy trình tái chế. Thủy tinh được nghiền thành bột mịn và phân loại theo kích thước. Quá trình này giúp loại bỏ các tạp chất và chuẩn bị nguyên liệu cho các bước tiếp theo trong sản xuất vật liệu xây dựng.

3.2. Nung chảy và tạo hình vật liệu nhẹ

Sau khi thủy tinh được nghiền và phân loại, nó sẽ được nung chảy ở nhiệt độ cao để tạo thành các sản phẩm vật liệu nhẹ. Quá trình này không chỉ giúp tạo ra các sản phẩm có độ bền cao mà còn giảm thiểu lượng khí thải trong quá trình sản xuất.

IV. Ứng dụng thực tiễn của thủy tinh từ chất thải điện tử trong xây dựng

Thủy tinh từ chất thải điện tử có thể được sử dụng để sản xuất nhiều loại vật liệu xây dựng khác nhau. Các sản phẩm như gạch bê tông nhẹ, gạch không nung và các vật liệu cách âm, cách nhiệt đều có thể được sản xuất từ thủy tinh tái chế. Việc sử dụng thủy tinh trong xây dựng không chỉ giúp tiết kiệm nguyên liệu mà còn giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

4.1. Gạch bê tông nhẹ từ thủy tinh tái chế

Gạch bê tông nhẹ được sản xuất từ thủy tinh tái chế có trọng lượng nhẹ và độ bền cao. Sản phẩm này không chỉ giúp giảm tải trọng cho công trình mà còn tiết kiệm chi phí xây dựng. Gạch bê tông nhẹ cũng có khả năng cách âm và cách nhiệt tốt, phù hợp cho nhiều loại công trình.

4.2. Vật liệu cách âm và cách nhiệt

Thủy tinh tái chế có thể được sử dụng để sản xuất các vật liệu cách âm và cách nhiệt hiệu quả. Các sản phẩm này giúp cải thiện chất lượng không khí trong nhà và tiết kiệm năng lượng cho các công trình xây dựng. Việc sử dụng vật liệu này không chỉ mang lại lợi ích kinh tế mà còn góp phần bảo vệ môi trường.

V. Kết luận và tương lai của thủy tinh từ chất thải điện tử trong xây dựng

Việc sử dụng thủy tinh từ chất thải điện tử trong xây dựng là một giải pháp bền vững cho ngành công nghiệp vật liệu. Tương lai của ngành xây dựng sẽ phụ thuộc vào khả năng tái chế và sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên từ chất thải. Cần có sự hợp tác giữa các nhà khoa học, doanh nghiệp và chính phủ để phát triển các công nghệ tái chế tiên tiến và nâng cao nhận thức cộng đồng về tầm quan trọng của việc tái chế.

5.1. Tầm quan trọng của việc tái chế thủy tinh

Tái chế thủy tinh không chỉ giúp giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn tiết kiệm nguồn tài nguyên thiên nhiên. Việc phát triển các công nghệ tái chế hiệu quả sẽ giúp tối ưu hóa việc sử dụng thủy tinh trong sản xuất vật liệu xây dựng.

5.2. Hướng đi tương lai cho ngành xây dựng bền vững

Ngành xây dựng cần hướng tới việc sử dụng các vật liệu tái chế và thân thiện với môi trường. Việc áp dụng các công nghệ mới và phát triển các sản phẩm từ thủy tinh tái chế sẽ góp phần tạo ra một tương lai bền vững cho ngành xây dựng.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Ngày nay với sự gia tăng chóng mặt của chất thải công nghiệp, một trong số lƣợng lớn đó phải kể đến nguồn rác thải ngành điện - điện tử. Rác thải của ngành điện - điện tử rất đa dạng nhƣ màn hình tivi (bao gồm màn thủy tinh CRT và màn hình phẳng LCD), các thiết bị chiếu sáng, các vật liệu gia dụng trong gia đình,…vv.Vấn đề xử lý rác thải công nghiệp nói chung, rác thải ngành điện tử nói riêng đã là một vấn đề nóng hổi thu hút sự quan tâm của toàn nhân loại và đặc biệt là các nhà khoa học trên toàn thế giới.Ở Việt Nam, bộ Tài nguyên môi trƣờng đang đƣợc thủ tƣớng giao soạn thảo quyết định về trách nhiệm của các nhà sản xuất nhập khẩu phân phối và tiêu dùng phải thu gom, xử lý các thiết bị điện tử hỏng, hết hạn sử dụng. Bóng đèn huỳnh quang và màn hình thủy tinh CRT là những rác thải không phân hủy chứa các kim loại và hợp chất độc hại. Khi thải chúngra môi trƣờng, chúng sẽgây ô nhiễm môi trƣờng và gây độc cho con ngƣời.

Tuy nhiên việc tái sử dụng các vật liệu để sử dụng vào mục tiêu tiết kiệm nguồn nguyên liệu đồng thời giảm giá thành và tăng sản phẩm cho xã hội. Thủy tinh đƣợc thu gom từ nguồn thải điện - điện tửcó thể tận dụng để tái sản xuấtcũng nhƣ sử dụng làm nguyên liệu đầu cho sản xuất vật liệu: gốm xốp, bê tông xốp, thủy tinh xốp, men gốm,. phục vụ cho ngành xây dựng. Với thực tế trên chúng tôi chọn đề tài cho luận văn thạc sĩ: “Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện – điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng”.

Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 1 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 Chƣơng 1: TỔNG QUAN 1. Giới thiệu về vật liệu 1. Vật liệu xây dựng truyền thống Xây dựng là một ngành công nghiệp sử dụng khối lƣợng vật liệu nhiều nhất,khối lƣợng các vật liệu sử dụng cho ngành xây dựng là khổng lồ. Vật liệu sử dụng chủ yếu và phổ biến trong xây dựng hiện nay là gạch sét nung, bê tông xi măng.

Để sản xuất ra những vật liệu xây dựng này cần một khối lƣợng nguyên liệu khổng lồ và sản sinh ra một lƣợng lớn khí thải độc hại. Để sản xuất gạch sét nung thì chủ yếu sản xuất bằng lò thủ côngtruyền thống và lò nung Tuynel. Lò thủ công truyền thống Lò thủ công truyền thống đƣợc sử dụng phổ biến ở Việt Nam từ lâu đời,đây là loại hình công nghệ sản xuất đơn giản, lạc hậu nhất. Hiện nay sản lƣợng gạch đất sét nung đƣợc sản xuất bằng lò đứng thủ công chiếm khoảng khoảng 35% - 40% tổng sản lƣợng gạch đất sét nung.

Sản phẩm của công nghệ này không đảm bảo về kích thƣớc, chƣa phù hợp với độ co nguyên liệu, nên kích thƣớc sản phẩm thƣờng thiếu hụt, mẫu mã sản phẩm đơn điệu [8].Gạch mộc sau khi tạo hình đƣợc phơi trên cáng thủ công không có mái che, sau đó đƣợc nung trong lò gián đoạn. Nhìn chung, công nghệ sản xuất chủ yếu là thủ công, hao phí nguyên, nhiên liệu lớn, gây ô nhiễm môi trƣờng, chất lƣợng gạch còn hạn chế, đặc biệt là về kích thƣớc, hình dạng. Nếu đáp ứng nhu cầu 42 triệu viên gạch vào năm 2020 bằng gạch đất sét nung sẽ tiêu tốn khoảng 57-60 triệu m3 đất sét, tƣơng đƣơng với 2.000 ha đất nông nghiệp. Ứng với những con số này, chúng ta còn tiêu tốn đến gần 6 triệu tấn than và thải ra môi trƣởng gần 17 triệu tấn khí thải (CO, CO2), gây nên hiệu ứng nhà kính nghiêm trọng.

Có thể liệt kê hàng loạt nhƣợc điểm của công nghệ sản xuất gạch đất sét nung bằng lò thủ công nhƣ sau: Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 2 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 - Nung gián đoạn, không có hệ thống thiết bị kiểm soát nhiệt độ lò, ngƣời thợ kiểm soát nhiệt độ lò đốt bằng kinh nghiệm. - Tổn thất nhiệt năng lớn, phát thải khí CO và CO2 nhiều, gây ô nhiễm môi trƣờng cao. - Chất lƣợng gạch thấp, không đồng đều, mẫu mã đơn điệu, phụ thuộc vào kinh nghiệm của ngƣời đốt lò, tỉ lệ gạch phế phẩm cao (trên 10%). - Năng suất lao động thấp, điều kiện lao động nặng nhọc.

Sản xuất gạch sét nung truyền thống b. Lò nung Tuynel Gần đây Lò nung Tuynel đƣợc sử dụng phổ biến và có xu hƣớng dần dần thay thế hoàn toàn cho lò nung truyền thống. Lò nung Tuynel đã khắc phục đƣợc một số nhƣợc điểm của lò nung truyền thống [7]: Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 3 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 - Có hệ thống thiết bị kiểm soát nhiệt độ lò nên chất lƣợng gạch sau nung tốt và độ ổn định giữa các lô sản xuất là rất lớn. - Giảm thiểu đƣợc phế phẩm nên giảm thiểu nguồn phát sinh rác thải và nâng cao hiệu quả kinh tế.

- Ít tổn thất nhiệt năng hơn, nên giảm thiểu phát thải khí CO, CO2 và ít gây ô nhiễm môi trƣờng. Sản xuất gạch sét nung lò Tuynel 1. Vật liệu xây dựng nhẹ không nung Vì các nguyên nhân nêu ở trên nên việc sử dụng vật liệu xây dựng thân thiện với môi trƣờng trở thành một xu hƣớng tất yếu trong ngành công nghiệp vật liệu xây dựng. Trong đó vật liệu nhẹ không nung đƣợc coi là giải pháp hiệu quả cho vấn đề trên và Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 4 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 vẫn đáp ứng đƣợc hầu hết các yêu cầu kỹ thuật để làm vật liệu xây dựng thân thiện với môi trƣờng.

Gạch không nung hay gạch block là một loại gạch mà sau gia công định hình thì tự đóng rắn đạt các chỉsốvềcơhọc nhƣcƣờng độnén, uốn, độhút nƣớc mà không cần qua nhiệt độ, không phải sửdụng nhiệt đểnung nóng đỏviên gạch nhằm tăng độbền của viên gạch [9]. Độbền của viên gạch không nung đƣợc gia tăng nhờlực ép hoặc rung hoặc cảép lẫn rung lên viên gạch và thành phần kết dính của chúng. Gạch bê tông nhẹ có hai loại cơ bản là gạch bê tông nhẹ bọt và gạch bê tông nhẹ khí chƣng áp. Sản suất bằng công nghệ tạo bọt, khí trong kết cấu nên tỷ trọng viên gạch giảm đi nhiều và nó trở thành đặc điểm ƣu việt nhất của loại gạch này.

Thành phần cơ bản: Xi măng, tro bay nhiệt điện, cát mịn, phụ gia tạo bọt hoặc khí, vôi,. Gạch bê tông nhẹ có hai loại cơ bản là gạch bê tông nhẹ bọt và gạch bê tông nhẹ khí chƣng áp[12]. Thành phần cơ bản: Xi măng, tro bay nhiệt điện, cát mịn, phụ gia tạo bọt hoặc khí, vôi,. Các ƣu điểm vật liệu nhẹ không nung [10]: - Trọng lượng nhẹ Với hàng triệu bọt khí li ti có trong kết cấu, tỷ trọng của bê tông khí ở trong khoảng từ 400kg/m3 đến 1.000kg/m3, và thông thƣờng ngƣời ta sản xuất loại sản phẩm có tỷ trọng từ 500 đến 700kg/m3.

Tỷ trọng này chỉ bằng 1/3 so với gạch đặc và bằng 2/3 so với gạch rỗng đất sét nung. Do vậy, khi thay thế gạch xây thông thƣờng bằng gạch bê tông khí cho phép giảm tải trọng, tiết kiệm chi phí kết cấu của công trình từ 10 Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 đến 12%, hoặc vẫn kết cấu của công trình nhƣ vậy nhƣng cho phép tăng chiều cao của công trình. Cũng nhờ tỷ trọng của sản phẩm rất nhẹ nên cho phép tạo hình những sản phẩm kích cỡ lớn hơn so với gạch xây mà không ảnh hƣởng đến thao tác của ngƣời thợ. Khi xây bằng gạch bê tông khí, tốc độ xây của ngƣời thợ tăng gấp đôi so với gạch thông thƣờng.

Đây chính là một trong những yếu tố làm rút ngắn tiến độ thi công của công trình. - Cƣờng độ nén cao Tỉ trọng của Gạch bê tông bọt siêu nhẹ rất đa dạng: từ 900 Kg/m3 đến 1.400 Kg/m3, với cƣờng độ nén tƣơng ứng là: 4,0 đến 12,5 N/mm2. - Khả năng cách âm tốt Gạch bê tông bọt siêu nhẹ có khả năng cách âm tuyệt vời nên đƣợc xem là giải pháp tối ƣu trong các công trình xây dựng có yêu cầu cao về cách âm hoặc chống ồn nhƣ: bệnh viện, trƣờng học, khách sạn. Đặc biệt, sản phẩm gạch bê tông bọt siêu nhẹ Nghiên cứu sử dụng thủy tinh từ chất thải điện - điện tử để sản xuất vật liệu nhẹ không nung ứng dụng trong xây dựng 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Luận văn thạc sĩ khoa học Đặng Trung Quý – K22 rất phù hợp trong việc tạo vách ngăn, sàn, mái và tƣờng cách âm trong nhà hát, rạp chiếu phim, nhà cao tầng.

- Khả năng chống thấm cực tốt Gạch bê tông bọt siêu nhẹ có kết cấu bê tông với hàng triệu bọt khí li ti tạo nên một hệ thống lỗ tổ ong kín với kích thƣớc siêu nhỏ, ngăn sự thẩm thấu của nƣớc. Do đó, gạch bê tông bọt siêu nhẹ có đặc tính chống thấm rất cao, thƣờng đƣợc sử dụng trong thi công bể bơi, bể chứa, sàn và mái chống thấm. - Khả năng giảm thiểu ảnh hưởng của động đất Với trọng lƣợng nhẹ hơn gạch đỏ truyền thống và bê tông thông thƣờng, gạch bê tông bọt siêu nhẹ có khả năng kháng lại sức tàn phá của động đất và giảm tối đa tỉ lệ thƣơng vong cho con ngƣời và thiệt hại về tài sản. - Khả năng cách nhiệt và chống cháy So với gạch đỏ truyền thống và bê tông thông thƣờng, gạch bê tông bọt siêu nhẹ có khả năng cách nhiệt và chống cháy rất hiệu quả.

Do đó, sử dụng sản phẩm gạch bê tông bọt siêu nhẹ sẽ giảm đáng kể chi phí điều hoà nhiệt độ trong các công trình xây dựng. - Chất lượng vững bền theo thời gian Gạch bê tông bọt siêu nhẹ vững bền theo thời gian trong mọi điều kiện thời tiết, không bị mối mọt và chống cháy cao.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ