Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm, thông tin, số liệu về chăm sóc sức khoẻ sinh sản và sinh con tại nhà 1. Sức khoẻ sinh sản (SKSS): Theo WHO, “Sức khỏe sinh sản là trạng thái khỏe mạnh về thể chất, tinh thần và hòa hợp xã hội về tất cả các phương diện liên quan đến hệ thống sinh sản trong suốt các giai đoạn của cuộc đời” [45]. Cũng theo WHO, chăm sóc SKSS là một tập hợp các phương pháp, kỹ thuật và dịch vụ nhằm giúp cho con người có tình trạng SKSS khỏe mạnh thông qua việc phòng chống và giải quyết những vấn đề liên quan đến SKSS.
Điều này cũng bao gồm cả sức khỏe tình dục với mục đích nâng cao chất lượng cuộc sống và mối quan hệ giữa con người với con người mà không chỉ dừng lại ở chăm sóc y tế và tư vấn một cách đơn thuần cho việc sinh sản và những nhiễm trùng qua đường tình dục [45]. Dịch vụ chăm sóc sức khoẻ sinh sản: Được hiểu là dịch vụ tuân theo quy trình kỹ thuật được quy định trong Chuẩn Quốc gia về các dịch vụ CSSKSS, đáp ứng được nhu cầu và mong đợi của khách hàng, đồng thời giúp người cung cấp dịch vụ đạt được kết quả, hiệu quả cao, được khách hàng tin tưởng lựa chọn dịch vụ, từ đó chất lượng dịch vụ ngày càng nâng cao [11]. Làm mẹ an toàn (LMAT): Là tất cả phụ nữ đều được nhận sự chăm sóc cần thiết để được hoàn toàn khoẻ mạnh trong suốt thời gian mang thai, sinh đẻ và sau đẻ; bao gồm cả điều trị cấp cứu sản khoa khi có tai biến xảy ra. LMAT là một lĩnh vực ưu tiên trong chăm sóc sức khoẻ của các nước trên thế giới [2].
Quản lý và chăm sóc thai nghén: * Quản lý thai nghén: Là biện pháp giúp cán bộ y tế nắm được số người có thai trong từng thôn, làng, trong đó ai có thai bình thường, ai có thai nguy cơ cao, việc khám thai của thai phụ như thế nào; hàng tháng có bao nhiêu người đẻ tại trạm hoặc phải đẻ ở tuyến trên; theo dõi chăm sóc bà mẹ khi sinh đẻ và sau đẻ cho đến khi hết thời kỳ hậu sản [4]. 5 * Khám thai đầy đủ 3 lần: Là số phụ nữ mang thai được cán bộ y tế khám thai từ 1 lần trở lên trong mỗi kỳ của 3 kỳ thai của lần đẻ này (chỉ tính cho những lần đến khám vì lý do thai nghén chứ không tính lần đến khám khi đã chuyển dạ đẻ hoặc khám bệnh thông thường) [11]. Lần thứ nhất thực hiện trong 3 tháng đầu với mục đích xác định tuổi thai, đăng ký quản lý thai nghén sớm, phát hiện những bất thường và những biến chứng sớm như nôn nặng hoặc các bệnh lý chảy máu sớm [4]. Lần thứ 2 khám vào 3 tháng giữa để đánh giá sự phát triển của thai, phát hiện thai nghén có nguy cơ cao và tiêm phòng uốn ván.
Lần thứ 3 khám thai trong 3 tháng cuối để theo dõi sức khỏe của mẹ và sự phát triển của thai nhi, dự đoán việc sinh nở và phòng ngừa những bất trắc trong quá trình chuyển dạ [4]. Ngoài ra, Bộ Y tế cũng khuyến cáo chất lượng bảo vệ thai tăng lên theo số lần khám thai. Người mẹ nên khám thai mỗi tháng 1 lần cho đến khi được 28 tuần tuổi, sau đó cứ hai tuần một lần cho đến khi được 36 tuần tuổi và sau đó nên khám hàng tuần cho đến tuần thứ 40 [4]. * Chăm sóc trước sinh: Là những nhiệm vụ đáp ứng việc chăm sóc sản khoa cho người phụ nữ tính từ thời điểm có thai cho đến khi đẻ nhằm đảm bảo cho quá trình mang thai được an toàn, sinh con khoẻ mạnh và được chuẩn bị nuôi dưỡng tốt.
Chăm sóc trước sinh có vai trò quan trọng nhằm phát hiện và quản lý hiệu quả các dấu hiệu bất thường từ sớm, hay những yếu tố nguy cơ đối với bệnh tật và tử vong trong quá trình mang thai [2]. * Chăm sóc trong khi sinh: Là chăm sóc trong giai đoạn chuyển dạ, được tính từ khi sản phụ bắt đầu có dấu hiệu chuyển dạ (ra dịch hồng hoặc vỡ ối) cho đến khi thai nhi và rau ra khỏi cơ thể người phụ nữ. Tăng tỷ lệ sinh con tại cơ sở y tế là một yếu tố quan trọng làm giảm các rủi ro cho sức khoẻ bà mẹ và trẻ nhỏ. Chăm sóc y tế phù hợp với môi trường vệ sinh trong khi sinh có thể làm giảm các rủi ro tai biến hoặc nhiễm trùng có thể dẫn đến bệnh tật hoặc tử vong cho mẹ và bé [2].
* Chăm sóc sau sinh: Là những chăm sóc tính từ sau khi cuộc đẻ được hoàn tất đến 42 ngày sau đẻ, phát hiện những bất thường để xử trí, hướng dẫn bà mẹ chăm sóc trẻ sơ sinh khoẻ mạnh [2]. Chăm sóc sau sinh bao gồm việc theo dõi và chuyển tuyến điều trị cho bà mẹ nếu có biến chứng như băng huyết, đau, nhiễm khuẩn, ngoài ra còn 6 bao gồm cả tư vấn nuôi con bằng sữa mẹ, dinh dưỡng thời kỳ nuôi con, các tư vấn về chăm sóc sơ sinh và kế hoạch hoá gia đình [2]. Những tai biến sản khoa thường gặp, tử vong mẹ và tử vong sơ sinh: * Những tai biến sản khoa thường gặp: Là những biến chứng có thể xảy ra và là nguyên nhân trực tiếp đe dọa sức khỏe, tính mạng của người mẹ và thai nhi trong thời kỳ thai nghén, kể từ ngày đầu mang thai cho đến 42 ngày của thời kỳ hậu sản [4]. Băng huyết sau sinh: Theo WHO, băng huyết là khi lượng máu chảy ra từ đường sinh dục sau đẻ từ 500 ml trở lên [4].
Tiền sản giật: Sản giật là biến chứng của nhiễm độc thai nghén, độ 70% sản giật xảy ra ở 3 tháng cuối, 20% trong chuyển dạ và từ 1 đến 5% trong thời kỳ hậu sản, chủ yếu trong 48 giờ đầu sau đẻ. Sản giật biểu hiện bằng những cơn giật qua 4 giai đoạn, có thể gây tử vong mẹ và con trong cơn sản giật [4]. Nhiễm trùng hậu sản: Là những nhiễm trùng đường sinh dục xảy ra khi bắt đầu vỡ ối, trong chuyển dạ hoặc trước ngày thứ 42 sau đẻ với hai hoặc nhiều dấu hiệu dưới đây: Một là đau tiểu khung; hai là nhiệt độ cơ thể từ 38oC trở lên ở một thời điểm nào đó trong 24 giờ của ngày; ba là dịch âm đạo ra bất thường, ví dụ có mủ; bốn là khí hư âm đạo có mùi bất thường; năm là co hồi tử cung chậm (nhỏ hơn 2cm/ngày, trong 8 ngày đầu từ 20 cm xuống 2 cm trên khớp vệ) [4]. Vỡ tử cung: Là một tai biến sản khoa rất nguy hiểm cho cả mẹ và con, nếu không phát hiện và xử trí kịp thời sẽ gây tử vong cho mẹ và thai nhi.
Có thể vỡ tử cung trong thời kỳ thai nghén, nhưng thường gặp vỡ tử cung trong khi chuyển dạ. Hiện nay nhờ có sự đăng ký, quản lý thai nghén tốt, nhờ có kháng sinh và các kỹ thuật gây mê, hồi sức hiện đại, có chỉ định mổ đúng lúc, hạn chế được các thủ thuật thô bạo, do đó làm giảm được tỷ lệ vỡ tử cung [4]. Uốn ván sơ sinh: Là tình trạng nhiễm nha bào uốn ván của trẻ sau khi sinh ra, biểu hiện bằng các triệu chứng như quấy khóc, bỏ bú hoặc co giật từ ngày thứ 3 đến ngày thứ 28, thường nhiễm do quá trình cắt và chăm sóc trẻ, do dụng cụ cắt rốn không đảm bảo vệ sinh và nhiễm nha bào uốn ván [4]. * Tử vong mẹ: Những trường hợp phụ nữ tử vong trong thời kỳ mang thai hoặc 42 ngày sau khi chấm dứt thai nghén vì bất kỳ lý do gì trừ nguyên nhân tử 7 vong do tai nạn và tự tử.
Tỷ suất tử vong mẹ (MMR) là tổng số ca tử vong mẹ trên 100. Tỷ số này cho biết nguy cơ tử vong mẹ trong thời gian mang thai và sau sinh [5]. * Tử vong sơ sinh: Là những trường hợp trẻ bị tử vong trong vòng 28 ngày đầu sau đẻ trên 1000 trẻ đẻ sống trong năm [5]. Sinh con tại nhà: Sinh con tại nhà được diễn ra khi người phụ nữ lựa chọn sinh tại nhà thay vì đến CSYT.
Có một số phụ nữ thích sinh con tại nhà vì rất nhiều lý do. Ví dụ như người mẹ sẽ tự do hơn khi di chuyển, ăn uống và tắm giặt. Người mẹ cũng cảm thấy thoải mái trong lúc sinh khi được ở bên cạnh những người yêu thương trong một không gian thân thuộc. Tuy nhiên, việc sinh con tại nhà cũng có thể có những khó khăn và rủi ro nhất định [43].
Người đỡ đẻ có kỹ năng, cô đỡ thôn bản, mụ vườn và gói đỡ đẻ sạch: * Người đỡ đẻ có kỹ năng: Được coi là nhân viên y tế bao gồm NHS, bác sỹ hay điều dưỡng là những người đã được đào tạo bài bản để có thể có các kỹ năng cần thiết để chỉ huy cuộc đẻ thường và chăm sóc thai phụ thời kỳ hậu sản [43]. * Cô đỡ thôn bản: Là những phụ nữ người địa phương tại các thôn bản, được đào tạo những kỹ năng cơ bản trong phát hiện và quản lý thai nghén, đỡ đẻ sạch và an toàn, chăm sóc bà mẹ và trẻ sơ sinh ngay sau sinh; tư vấn và thuyết phục người dân đến khám thai tại các cơ sở y tế, góp phần hiệu quả vào chương trình LMAT nhằm giảm tử vong mẹ và tử vong sơ sinh ở vùng nông thôn, miền núi [43]. * Mụ vườn: Mụ vườn là từ thường dùng trong dân gian để chỉ những người đỡ đẻ cho phụ nữ ở nhà, chỉ có kinh nghiệm chứ không được đào tạo qua trường lớp về đỡ đẻ. * Gói đỡ đẻ sạch: Là sản phẩm y tế với công dụng cung cấp đầy đủ các thành phần cần thiết phục vụ cho một cuộc đẻ thường tại tuyến y tế cơ sở [18].
Các thành phần trong “Gói đẻ sạch” đã được tiệt trùng, tiện lợi, dễ dàng sử dụng, bảo đảm an toàn vệ sinh, đặc biệt đối với các trạm y tế ở vùng sâu, vùng xa. Đây là sản phẩm được Bộ Y tế chuẩn hoá và khuyến cáo sử dụng ở tuyến y tế cơ sở [18]. Thực trạng sinh con tại nhà trên thế giới và Việt Nam 1. Trên thế giới Trên thế giới việc sinh con cũng như lựa chọn nơi sinh thực sự do người phụ nữ quyết định.
Theo nghiên cứu của Banyana Cecilin và Rosemary Crow (2003) về những thông tin sẵn có cho bà mẹ lựa chọn nơi sinh ở miền Đông Nam nước Anh.