Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất nông nghiệp tại Việt Nam xuất phát điểm còn thấp, với trên 70% dân số sinh sống ở khu vực nông thôn và 70% lực lượng lao động xã hội làm việc trong ngành nông nghiệp (số liệu năm 2015). Năng suất khai thác đất đai và năng suất lao động nhìn chung chưa cao, quy mô sản xuất còn mang tính manh mún, nhỏ lẻ, chưa phát huy tối đa tiềm năng đất đai và nguồn lực sẵn có. Trước yêu cầu chuyển đổi nền nông nghiệp sang hướng sản xuất hàng hóa lớn, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng trở thành nhiệm vụ trọng tâm nhằm đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao giá trị thu nhập trên một đơn vị diện tích và cải thiện đời sống nông hộ.

Tại huyện Mường Tè (tỉnh Lai Châu), công tác chuyển đổi cơ cấu cây trồng đã bước đầu đạt được một số kết quả tích cực thông qua việc triển khai các mô hình canh tác mới. Tuy nhiên, tại xã Bum Nưa — một xã vùng thấp có điều kiện tự nhiên tương đối thuận lợi so với mặt bằng chung của huyện — tiến độ chuyển dịch cơ cấu cây trồng vẫn diễn ra chậm, tiềm năng đất đai và lao động chưa được khai thác triệt để, tập quán sản xuất tự cung tự cấp còn phổ biến. Xuất phát từ thực tế đó, tác giả thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể trong văn bản như sau:

  1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội liên quan đến sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại địa bàn nghiên cứu.
  2. Đánh giá thực trạng cơ cấu cây trồng và sự chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu giai đoạn 2015 – 2017.
  3. Đưa ra những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi nhằm đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu cây trồng trên địa bàn xã Bum Nưa theo hướng sản xuất hàng hóa.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Cơ cấu cây trồng và quá trình chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại xã Bum Nưa.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Bum Nưa, huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu; khảo sát chi tiết tại 4 bản: bản Bum, bản Nà Hẻ, bản Nà Lang và bản Nà Hừ.
  • Phạm vi thời gian: Đề tài tiến hành thu thập và khảo sát thực địa từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2018; chuỗi số liệu thứ cấp phản ánh thực trạng sản xuất giai đoạn 3 năm (2015 – 2017).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận tiếp cận vấn đề nghiên cứu dựa trên các khái niệm nền tảng của kinh tế nông nghiệp:

  • Cơ cấu cây trồng: Thành phần các giống và các loại cây được bố trí theo không gian và thời gian trong một hệ sinh thái nông nghiệp nhằm khai thác hợp lý các nguồn lực tự nhiên, kinh tế, xã hội của vùng.
  • Cơ cấu cây trồng hợp lý: Cơ cấu phù hợp với phương thức sản xuất của từng địa bàn, khai thác hiệu quả tài nguyên đất, tạo mối quan hệ tương hỗ sinh học giữa các loài cây trồng và nâng cao hiệu quả kinh tế trên một đơn vị diện tích.
  • Chuyển dịch cơ cấu cây trồng: Quá trình thay đổi tỷ lệ diện tích gieo trồng và giá trị sản lượng giữa các nhóm cây trồng hoặc từng loại cây trồng; thực chất là quá trình phá thế độc canh, đưa các giống mới có năng suất và giá trị kinh tế cao vào sản xuất thay thế giống cũ.

Khung phân tích lý thuyết của tác giả gắn liền với các quan điểm: quan điểm phát triển sản xuất hàng hóa (vận dụng lý thuyết của Paul A. Samuelson năm 1989 về giải quyết ba vấn đề: sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào và cho ai, gắn với chuỗi bốn khâu sản xuất – phân phối – lưu thông – tiêu thụ); quan điểm sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu; quan điểm phát triển nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái. Cơ sở chính sách được trích dẫn gồm: Chỉ thị số 100-CT/TW (năm 1981), Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 1988), Điều 20 Luật Đất đai năm 1993, Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Lai Châu đến năm 2020 tầm nhìn 2030, và Kế hoạch số 221/KH-UBND ngày 29/03/2017 của UBND huyện Mường Tè về phòng chống dịch bệnh gia súc, gia cầm.

Phương pháp nghiên cứu thực tế gồm:

  • Thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập báo cáo kinh tế - xã hội, báo cáo tổng kết sản xuất nông nghiệp hàng năm tại UBND xã Bum Nưa; số liệu thống kê ngành nông nghiệp huyện Mường Tè và các tài liệu chuyên ngành.
  • Thu thập dữ liệu sơ cấp: Điều tra bảng hỏi cấu trúc trên cỡ mẫu $n = 60$ hộ nông dân được lựa chọn ngẫu nhiên tại 4 bản (15 hộ tại bản Bum, 15 hộ tại bản Nà Hẻ, 15 hộ tại bản Nà Lang và 15 hộ tại bản Nà Hừ).
  • Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: Thống kê mô tả; so sánh chỉ số phát triển liên hoàn và bình quân; phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA); xử lý và tính toán số liệu trên phần mềm Microsoft Excel.
  • Hệ thống chỉ tiêu kinh tế sử dụng:
    • Giá trị sản xuất ($GO$): $GO = \sum_{i=1}^{n} Q_i \cdot P_i$ (trong đó $Q_i$ là khối lượng sản phẩm loại $i$, $P_i$ là đơn giá sản phẩm).
    • Tổng chi phí sản xuất ($TC$): $TC = FC + VC$ ($FC$: chi phí cố định, $VC$: chi phí biến đổi).
    • Thu nhập ($TN$): $TN = GO - TC$.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Mở đầu

Tác giả trình bày tính cấp thiết của việc chuyển đổi mô hình kinh tế nông nghiệp từ độc canh cây lương thực sang phát triển kinh tế hàng hóa tại các địa bàn miền núi. Xác định 3 mục tiêu cụ thể, làm rõ ý nghĩa học tập trong việc rèn luyện phương pháp nghiên cứu thực tiễn và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp cứ liệu khoa học cho công tác quy hoạch của chính quyền cơ sở.

Phần 2: Tổng quan nghiên cứu

Phần này hệ thống hóa cơ sở lý luận về cơ cấu cây trồng và các quy luật kinh tế chi phối quá trình chuyển dịch cơ cấu. Đánh giá kinh nghiệm thực tiễn trên thế giới thông qua ba nhóm nước: nhóm nước phát triển (chuyên môn hóa cao, nông nghiệp trang trại lớn, gắn với công nghiệp chế biến), nhóm nước đang phát triển (bắt đầu chuyên môn hóa, thiếu vốn, quản lý còn hạn chế) và nhóm nước nghèo (quảng canh, tự nhiên, kỹ thuật lạc hậu). Tại Việt Nam, tác giả điểm lại hai giai đoạn: giai đoạn trước Đổi mới 1986 (độc canh cây lúa, sản xuất mang nặng tính tự cấp, năng suất lúa bình quân cả nước thấp: 22,3 tạ/ha năm 1975 và 21,1 tạ/ha năm 1980) và giai đoạn sau Đổi mới 1986 (đưa các giống lai ngắn ngày vào sản xuất, mở rộng vụ đông tại miền Bắc, nâng giá trị sản xuất trồng trọt từ 13,5 triệu đồng/ha năm 1995 lên 55,5 triệu đồng/ha năm 2010). Đối với tỉnh Lai Châu, toàn tỉnh có 93.000 ha đất trồng cây nông nghiệp, với trên 80% dân số phụ thuộc vào nông nghiệp; tỉnh đang triển khai chuyển đổi lúa, ngô 1 vụ thành 2 vụ và phục tráng các giống lúa đặc sản (tẻ râu, séng cù, nếp tan cò giàng).

Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Xác định đối tượng khảo sát là hiện trạng sản xuất trồng trọt tại xã Bum Nưa. Trình bày chi tiết địa điểm, thời gian nghiên cứu (từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2018), quy trình thiết kế bảng hỏi và kỹ thuật lấy mẫu ngẫu nhiên 60 hộ tại 4 bản. Thiết lập hệ thống công thức toán kinh tế tính toán giá trị sản xuất ($GO$), chi phí sản xuất ($TC$) và thu nhập ($TN$).

Phần 4: Kết quả nghiên cứu

Nội dung này phản ánh thực trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và biến động ngành trồng trọt xã Bum Nưa:

  • Điều kiện tự nhiên và đất đai: Xã cách trung tâm huyện Mường Tè 5 km; khí hậu nhiệt đới chia 2 mùa rõ rệt, nhiệt độ trung bình 21 - 23°C, lượng mưa trung bình 2.700 mm/năm (chiếm 85% vào mùa mưa), độ ẩm trung bình 82%. Năm 2017, đất sản xuất nông nghiệp của xã là 225,3 ha (đất cây hàng năm chiếm 224,1 ha, đất cây lâu năm 1,1 ha); đất lâm nghiệp chiếm 4.541,0 ha; đất phi nông nghiệp 191,4 ha.
  • Dân số và sản xuất lương thực 2017: Xã có 7 bản, 748 hộ với 3.664 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc (Thái, Mảng, Kinh; dân tộc Thái chiếm đa số). Sản lượng cây có hạt đạt 1.533,8 tấn (thóc đạt 1.351,8 tấn); bình quân lương thực đầu người đạt 417 kg/năm. Đàn gia súc có 3.994 con (trâu 697 con, bò 377 con, dê 158 con), đàn gia cầm 15.145 con.
  • Biến động diện tích gieo trồng (2015 – 2017): Tổng diện tích gieo trồng tăng từ 413,4 ha (2015) lên 426,9 ha (2017), tốc độ tăng bình quân 1,6%/năm. Cây lương thực giữ vai trò chi phối (94,5% năm 2017), trong đó diện tích ngô tăng bình quân 3,7%/năm (từ 65,0 ha lên 70,0 ha), sắn tăng từ 65,0 ha lên 66,5 ha, khoai lang ổn định ở mức 10,0 ha. Cây công nghiệp (lạc) giảm bình quân 5,2%/năm (từ 12,0 ha xuống 10,8 ha). Diện tích rau màu tăng bình quân 8,9%/năm (từ 11,2 ha lên 13,3 ha).
Nhóm cây trồng Năm 2015 (ha) Năm 2016 (ha) Năm 2017 (ha) Tốc độ tăng BQ (%/năm)
I. Cây lương thực 390,2 396,3 402,8 1,8
- Khoai các loại 10,0 10,0 10,0 0,0
- Ngô 65,0 66,0 70,0 3,7
- Cây sắn 65,0 65,8 66,5 1,1
II. Cây công nghiệp (Lạc) 12,0 11,2 10,8 -5,2
III. Cây thực phẩm (Rau) 11,2 12,1 13,3 8,9
Tổng diện tích 413,4 419,6 426,9 1,6
  • Năng suất và giá trị sản xuất: Năng suất lúa đông xuân tăng từ 52,9 tạ/ha (2015) lên 54,9 tạ/ha (2017); ngô tăng từ 26,8 tạ/ha lên 30,0 tạ/ha; sắn tăng từ 35,0 tạ/ha lên 36,9 tạ/ha; rau màu giữ ổn định 10,0 tạ/ha. Năng suất khoai lang giảm nhẹ từ 25,0 tạ/ha xuống 24,5 tạ/ha. Tổng giá trị sản xuất ngành trồng trọt tăng trưởng bình quân 5,1%/năm, đạt 86 tỷ đồng vào năm 2017, trong đó nhóm cây lương thực đóng góp trên 43 tỷ đồng.
  • Cơ cấu mùa vụ và cơ cấu giống lúa năm 2017: Tổng diện tích gieo trồng mùa vụ năm 2017 là 334,7 ha (vụ xuân 152,0 ha, vụ mùa 182,7 ha). Năm 2017, tổng diện tích gieo cấy lúa cả năm đạt 256,7 ha (vụ xuân 108,0 ha, vụ mùa 148,7 ha). Các giống mới mở rộng diện tích: J02 đạt 54,0 ha (21,0%), DS1 đạt 51,1 ha (19,9%), PC6 đạt 50,5 ha (19,6%). Các giống thuần truyền thống vẫn chiếm diện tích đáng kể: Hương thơm số 1 đạt 46,4 ha (18,0%), Bắc thơm số 7 đạt 29,2 ha (11,3%), Nhị Hương đạt 25,5 ha (9,9%). Giống ngô chủ yếu gồm LVN10, MX6, CP333, CP989; cây khoai gồm khoai môn, khoai lang tím.
  • Hệ thống luân canh trên đất lúa: Các công thức chính trên đất 2 vụ lúa gồm: lúa xuân + lúa mùa + rau đông; lúa xuân + lúa mùa + khoai lang đông; lúa xuân + lúa mùa + ngô đông; và đất lúa 2 vụ bỏ hoang. Diện tích đất lúa 2 vụ bỏ hoang giảm từ 400 ha (2015) xuống 385,1 ha (2017). Trên đất lúa 1 vụ gồm: 1 vụ lúa + 2 vụ ngô; 1 vụ lúa + 1 vụ rau; 1 vụ lúa + 1 vụ khoai; 1 vụ lúa + bỏ hoang. Việc đưa giống mới và xen canh cây màu vụ đông năm 2017 cho kết quả giá trị sản xuất cao hơn so với tập quán gieo cấy giống cũ năm 2015.
Loại hình canh tác Công thức luân canh Diện tích 2015 (ha) Diện tích 2016 (ha) Diện tích 2017 (ha)
Đất lúa 2 vụ Lúa xuân + lúa mùa + ngô đông 325,9 322,3 320,8
Lúa xuân + lúa mùa + rau đông 478,0 470,0 456,6
Lúa xuân + lúa mùa + khoai đông 455,0 450,0 443,8
Đất lúa 2 vụ + bỏ hoang 400,0 385,4 385,1
Đất lúa 1 vụ 1 vụ lúa + 2 vụ ngô 190,2 189,5 189,0
1 vụ lúa + 1 vụ rau 169,5 167,8 167,0
1 vụ lúa + 1 vụ khoai lang 155,8 155,0 152,6
1 vụ lúa + bỏ hoang 150,5 150,0 148,9
  • Thuận lợi, khó khăn và giải pháp:
    • Thuận lợi: Vị trí giao thông thuận tiện (gần trung tâm huyện, có đường liên tỉnh chạy qua); người dân tiếp cận được các lớp tập huấn khuyến nông; chính quyền ban hành chủ trương xây dựng cánh đồng thu nhập cao.
    • Khó khăn: Việc áp dụng tiến bộ kỹ thuật còn chậm; năng lực chỉ đạo điều hành của một số cán bộ cơ sở còn lúng túng; địa bàn rộng, trình độ thâm canh giữa các bản không đồng đều; đất sản xuất nông nghiệp nhỏ lẻ, manh mún; liên kết tiêu thụ sản phẩm chưa chặt chẽ.
    • Nhóm giải pháp tác giả đề xuất: Giải pháp khoa học kỹ thuật (khảo nghiệm giống mới, chuyển giao kỹ thuật thâm canh); giải pháp về công tác chỉ đạo (nâng cao năng lực cán bộ, xây dựng quy hoạch sản xuất cụ thể); giải pháp về vốn (tạo điều kiện vay vốn tín dụng chính sách); giải pháp về đất đai (dồn điền đổi thửa, khai hoang mở rộng diện tích); giải pháp về thị trường (tìm kiếm đầu ra, liên kết bao tiêu nông sản).

Phần 5: Kết luận và kiến nghị

Tổng hợp các phát hiện chính về chuyển dịch diện tích, năng suất và cơ cấu mùa vụ tại xã Bum Nưa. Nêu các kiến nghị với UBND huyện Mường Tè và cơ quan chuyên môn về việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kênh mương thủy lợi, cung ứng kịp thời nguồn giống đảm bảo phẩm cấp và đẩy mạnh công tác dự tính, dự báo bảo vệ thực vật.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu định lượng chi tiết về sản xuất nông nghiệp của xã Bum Nưa giai đoạn 2015 – 2017:

  • Ghi nhận xu hướng chuyển đổi diện tích tích cực: tổng diện tích gieo trồng cây hàng năm tăng 1,6%/năm (đạt 426,9 ha vào năm 2017). Trong đó, diện tích rau màu tăng trưởng nhanh nhất (tăng bình quân 8,9%/năm), ngô tăng 3,7%/năm, trong khi diện tích cây công nghiệp ngắn ngày (lạc) giảm bình quân 5,2%/năm do chịu ảnh hưởng bất lợi từ thời tiết.
  • Xác định sự thay đổi trong cơ cấu giống lúa: tỷ lệ các giống lúa lai và lúa thuần chất lượng cao (J02 chiếm 21,0%, DS1 chiếm 19,9%, PC6 chiếm 19,6%) đã tăng lên rõ rệt, từng bước thay thế các giống cũ bị thoái hóa, góp phần đưa năng suất lúa đông xuân năm 2017 đạt 54,9 tạ/ha.
  • Đánh giá hiện trạng luân canh cây trồng: làm rõ quy mô diện tích các công thức luân canh xen canh cây vụ đông trên đất 2 vụ lúa và đất 1 vụ lúa, chỉ ra diện tích đất lúa bỏ hoang sau vụ mùa đã giảm dần qua 3 năm (từ 400 ha xuống 385,1 ha đối với đất 2 lúa).
  • Hệ thống hóa 5 nhóm giải pháp cụ thể (kỹ thuật, chỉ đạo điều hành, vốn, đất đai, thị trường) sát hợp với điều kiện thực tế của một xã vùng cao biên giới.
  • Về mặt học thuật và thực tiễn, công trình đóng góp bộ dữ liệu điều tra thực địa cấp xã tại huyện Mường Tè — khu vực có ít tài liệu nghiên cứu chuyên sâu về kinh tế nông nghiệp — làm cơ sở khoa học cho công tác lập kế hoạch sản xuất tại địa phương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi và điều kiện thực hiện được tác giả ghi nhận:

  • Thời gian nghiên cứu thực địa diễn ra trong thời gian ngắn (từ tháng 02/2018 đến tháng 06/2018), do đó việc theo dõi chu kỳ sản xuất của một số cây trồng vụ hè thu và vụ đông chủ yếu dựa trên hồi cứu số liệu báo cáo và trí nhớ của nông hộ.
  • Quy mô mẫu khảo sát sơ cấp dừng lại ở 60 hộ tại 4/7 bản của xã, chưa bao quát toàn bộ 100% các bản vùng sâu thuộc xã Bum Nưa.
  • Bảng tổng hợp số liệu hiệu quả kinh tế một số công thức luân canh (Bảng 4.9) trong văn bản mới dừng lại ở việc phản ánh các chỉ tiêu chi phí sản xuất và giá trị sản xuất tổng quát, chưa lượng hóa chi tiết từng khoản mục chi phí trung gian ($IC$) và giá trị gia tăng ($VA$) của từng loại cây trồng.

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng:

  • Mở rộng quy mô điều tra trên toàn bộ 7 bản của xã Bum Nưa và mở rộng sang các xã lân cận trong huyện Mường Tè để có sự so sánh liên vùng.
  • Phân tích sâu hơn chuỗi giá trị và kênh tiêu thụ nông sản hàng hóa đặc thù miền núi (như ngô thương phẩm, lúa đặc sản) gắn với sự tham gia của các hợp tác xã và doanh nghiệp bao tiêu.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực đối với:

  • Sinh viên và học viên chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn và Khuyến nông: Tham khảo cách thức xây dựng đề cương nghiên cứu thực địa cấp xã, phương pháp thiết kế bảng hỏi nông hộ, và phương pháp thống kê mô tả phân tích tăng trưởng diện tích, năng suất, mùa vụ.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp và cán bộ khuyến nông cơ sở tại các huyện miền núi: Sử dụng số liệu thực chứng về khả năng thích ứng của các giống lúa mới (J02, PC6, DS1) và các giống ngô (LVN10, MX6, CP333, CP989) để xây dựng kế hoạch cơ cấu giống và lịch thời vụ.
  • Người làm đề tài nghiên cứu tương tự: Tham khảo hệ thống phân loại các công thức luân canh tăng vụ trên đất lúa 1 vụ và 2 vụ tại vùng cao Tây Bắc.

Câu hỏi thường gặp

1. Địa bàn nghiên cứu xã Bum Nưa có đặc điểm dân cư và quỹ đất sản xuất nông nghiệp như thế nào?
Năm 2017, xã Bum Nưa có 7 bản, 748 hộ với 3.664 nhân khẩu, gồm 3 dân tộc sinh sống (Thái, Mảng, Kinh; dân tộc Thái chiếm đa số). Tổng diện tích đất sản xuất nông nghiệp của xã năm 2017 là 225,3 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm chiếm 224,1 ha và đất trồng cây lâu năm là 1,1 ha; phần lớn diện tích tự nhiên còn lại là đất lâm nghiệp (4.541,0 ha).

2. Cơ cấu diện tích gieo trồng các nhóm cây chính tại xã Bum Nưa chuyển biến ra sao trong giai đoạn 2015 – 2017?
Tổng diện tích gieo trồng tăng từ 413,4 ha (2015) lên 426,9 ha (2017), tăng bình quân 1,6%/năm. Cây lương thực chiếm tỷ trọng lớn nhất (402,8 ha, chiếm 94,5% năm 2017); trong đó diện tích ngô tăng từ 65,0 ha lên 70,0 ha (tăng bình quân 3,7%/năm). Diện tích rau màu tăng từ 11,2 ha lên 13,3 ha (tăng bình quân 8,9%/năm). Diện tích lạc giảm từ 12,0 ha xuống 10,8 ha (giảm bình quân 5,2%/năm).

3. Cơ cấu giống lúa tại xã Bum Nưa năm 2017 có sự phân bổ như thế nào giữa giống truyền thống và giống mới?
Năm 2017, tổng diện tích gieo cấy lúa là 256,7 ha. Các giống mới du nhập chiếm tỷ lệ cao gồm J02 (54,0 ha, chiếm 21,0%), DS1 (51,1 ha, chiếm 19,9%) và PC6 (50,5 ha, chiếm 19,6%). Các giống cũ vẫn được duy trì gồm Hương thơm số 1 (46,4 ha, chiếm 18,0%), Bắc thơm số 7 (29,2 ha, chiếm 11,3%) và Nhị Hương (25,5 ha, chiếm 9,9%).

4. Khóa luận ghi nhận những công thức luân canh cây trồng chủ yếu nào trên đất lúa tại địa phương?
Trên đất lúa 2 vụ có các công thức: lúa xuân + lúa mùa + rau đông; lúa xuân + lúa mùa + khoai lang đông; lúa xuân + lúa mùa + ngô đông; và đất lúa 2 vụ bỏ hoang vụ đông. Trên đất lúa 1 vụ có các công thức: 1 vụ lúa + 2 vụ ngô; 1 vụ lúa + 1 vụ rau; 1 vụ lúa + 1 vụ khoai lang; và 1 vụ lúa bỏ hoang.

5. Tác giả đã sử dụng cỡ mẫu điều tra sơ cấp là bao nhiêu và phân bổ tại những địa bàn nào?
Tác giả tiến hành điều tra chọn mẫu ngẫu nhiên 60 hộ nông dân thông qua bảng hỏi, phân bổ đều tại 4 bản của xã Bum Nưa gồm: 15 hộ tại bản Bum, 15 hộ tại bản Nà Hẻ, 15 hộ tại bản Nà Lang và 15 hộ tại bản Nà Hừ.

Kết luận

Khóa luận của tác giả Lùng Thị Thiên đã phản ánh toàn diện thực trạng chuyển dịch cơ cấu cây trồng tại xã Bum Nưa, huyện Mường Tè giai đoạn 2015 – 2017 thông qua việc kết hợp giữa số liệu thống kê địa phương và kết quả khảo sát 60 nông hộ. Nghiên cứu chỉ ra sự chuyển biến tích cực trong việc đưa các giống lúa thuần chất lượng cao (J02, PC6, DS1) và giống ngô lai vào sản xuất, đồng thời mở rộng diện tích rau màu vụ đông nhằm khai thác hiệu quả đất lúa. Mặc dù sản xuất nông nghiệp trên địa bàn vẫn còn đối mặt với tình trạng manh mún, nhỏ lẻ và hạn chế về liên kết tiêu thụ, hệ thống 5 nhóm giải pháp được đề xuất trong công trình là cơ sở thực tiễn hữu ích phục vụ công tác quy hoạch phát triển nông nghiệp tại địa phương.