Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Phát triển nhà ở xã hội (NOXH) là một trong những trụ cột quan trọng trong chính sách an sinh xã hội, bảo đảm quyền có chỗ ở an toàn, thích hợp cho mọi tầng lớp nhân dân, đặc biệt là nhóm người có thu nhập thấp, công nhân lao động và cán bộ công chức. Tại Thủ đô Hà Nội – trung tâm chính trị, văn hóa và kinh tế lớn của cả nước – quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh chóng cùng dòng người di cư cơ học lớn đã tạo nên áp lực gay gắt về nhu cầu nhà ở giá rẻ. Mặc dù Nhà nước và Ủy ban nhân dân (UBND) Thành phố Hà Nội đã ban hành nhiều cơ chế khuyến khích, việc triển khai các dự án NOXH trên thực tế vẫn bộc lộ nhiều điểm nghẽn về nguồn cung, quỹ đất, quy hoạch kết nối hạ tầng và tiếp cận tín dụng ưu đãi.

Từ thực tiễn đó, đề tài chuyên đề thực tập tốt nghiệp "Vấn đề nhà ở xã hội tại Hà Nội: Thực trạng và giải pháp" được tác giả Nguyễn Thị Hoa (sinh viên lớp Kinh tế và Quản lý đô thị K58, Trường Đại học Kinh tế Quốc dân) thực hiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền và sự hỗ trợ số liệu từ Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia (tháng 5/2020).

Văn bản xác định các nội dung nghiên cứu cụ thể:

  1. Mục tiêu nghiên cứu:
    • Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm thực tiễn quốc tế về phát triển nhà ở xã hội để xây dựng khung phân tích.
    • Phân tích, đánh giá thực trạng phát triển NOXH trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020, chỉ ra các mặt hạn chế và nguyên nhân tồn tại.
    • Đề xuất các nhóm giải pháp từ phía cơ quan chính quyền địa phương và doanh nghiệp đầu tư nhằm nâng cao hiệu quả phát triển NOXH tại Hà Nội.
  2. Câu hỏi nghiên cứu:
    • Cung và cầu về NOXH tại Thành phố Hà Nội hiện nay đang diễn ra như thế nào?
    • Những giải pháp nào cần được thực hiện để phát triển NOXH một cách hiệu quả và đồng bộ?
  3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
    • Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề phát triển nhà ở xã hội tại Thành phố Hà Nội.
    • Phạm vi không gian: Địa bàn Thành phố Hà Nội.
    • Phạm vi thời gian: Thu thập và phân tích dữ liệu giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2020.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của chuyên đề được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam và các mô hình phát triển nhà ở quốc tế:

  • Khái niệm và quy chuẩn pháp lý: Căn cứ theo Luật Nhà ở số 65/2014/QH13 (Điều 3 quy định khái niệm NOXH; Điều 16 quy định quỹ đất phát triển NOXH; Điều 49 quy định 10 nhóm đối tượng thụ hưởng; Điều 51 quy định điều kiện về nhà ở và thu nhập để được hưởng chính sách) và Nghị định số 100/2015/NĐ-CP của Chính phủ về phát triển và quản lý NOXH (quy định cơ chế trích lập quỹ đất 20%, tiêu chuẩn thiết kế căn hộ chung cư khép kín diện tích từ 25 m² đến 70 m², mức khống chế trần lợi nhuận định mức tối đa 10% khi bán và 15% khi cho thuê/cho thuê mua).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc kết bài học từ mô hình quản lý phát triển nhà ở của Hàn Quốc (phân chia 10 nhóm thu nhập, lập Quỹ phát triển nhà ở bắt buộc đóng góp), Singapore (mô hình Cơ quan Nhà ở và Phát triển - HDB, Quỹ Tiết kiệm Trung ương - CPF với mức trích nộp tiền lương phục vụ mục đích mua nhà), Malaysia (Quỹ Tiết kiệm người lao động - EPF, tỷ lệ khống chế tối thiểu 30% NOXH trong dự án), và Philippines (quy định tỷ lệ 20% quỹ đất hoặc chi phí xây dựng cho nhà ở xã hội theo Luật Nhà ở năm 1992).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả áp dụng bao gồm:

  • Phương pháp kế thừa tài liệu: Kế thừa có chọn lọc các công trình nghiên cứu trước đây (như nghiên cứu của Huỳnh Nguyễn Dạ Quyên năm 2011, Mai Hồng Thuận năm 2014, Hoàng Thị Mậu năm 2018) để xác định khoảng trống nghiên cứu.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp: Thu thập số liệu thứ cấp từ các báo cáo chính thức.
  • Phương pháp phân tích - so sánh: So sánh các chỉ tiêu nhân khẩu học, diện tích sàn xây dựng, tỷ lệ hộ thiếu kiên cố giữa Hà Nội với cả nước và các đô thị lớn (TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Cần Thơ), so sánh cán cân cung - cầu và mức giá theo từng giai đoạn.

Nguồn dữ liệu sử dụng trong nghiên cứu gồm: Số liệu Tổng điều tra Dân số và Nhà ở năm 2019 của Tổng cục Thống kê, các báo cáo và văn bản của UBND Thành phố Hà Nội, Sở Xây dựng Hà Nội, Bộ Xây dựng, Kiểm toán Nhà nước (2020), cùng tư liệu từ Viện Quy hoạch đô thị và nông thôn Quốc gia.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận về nhà ở xã hội

Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa, vai trò và cơ chế vận hành chính sách NOXH:

  • Khái niệm và đặc điểm: NOXH là công trình nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng xã hội được quy định theo Luật Nhà ở 2014, gồm hai phương thức cung cấp: trực tiếp từ vốn ngân sách nhà nước hoặc do tư nhân đầu tư theo cơ chế đấu thầu/chỉ định có sự giám sát của Nhà nước.
  • Tiêu chuẩn thiết kế và giá cả: Căn hộ NOXH dạng chung cư phải xây dựng khép kín, diện tích tối thiểu 25 m², tối đa 70 m² (UBND cấp tỉnh được điều chỉnh tăng diện tích tối đa không quá 10%, số căn vượt 70 m² không quá 10% tổng số căn). Nhà ở liền kề thấp tầng có diện tích đất không quá 70 m², hệ số sử dụng đất không quá 2,0 lần. Lợi nhuận định mức của chủ đầu tư bị khống chế không vượt quá 10% tổng chi phí đầu tư đối với bán và không vượt quá 15% đối với thuê/thuê mua.
  • Vai trò: NOXH góp phần ổn định an sinh xã hội cho người thu nhập thấp; kích cầu chuỗi ngành nghề phụ trợ (vật liệu xây dựng, sản phẩm gia dụng); gia tăng nguồn thu ngân sách thông qua khai thác cho thuê/thuê mua và kiềm chế đà tăng giá, phá vỡ thế độc quyền của phân khúc nhà ở thương mại (NOTM).
  • Kinh nghiệm quốc tế: Đúc rút 6 bài học lớn cho Việt Nam: xây dựng cơ quan chuyên trách quản lý thống nhất; quy hoạch quỹ đất gắn liền với quy hoạch đô thị; thành lập quỹ tiết kiệm nhà ở; quy định tỷ lệ diện tích NOXH bắt buộc từ 20% đến 30% trong các dự án; áp dụng chính sách trợ cấp/bao cấp một phần giá; và tối ưu hóa thiết kế nhà cao tầng dạng tấm mỏng, diện tích nhỏ nhằm hạ giá thành.

Chương 2: Thực trạng nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội

Chương 2 tập trung phân tích thực trạng phát triển NOXH trên địa bàn Hà Nội thông qua các chuỗi số liệu cụ thể:

Chỉ tiêu thống kê / So sánh Dữ liệu Hà Nội Dữ liệu so sánh / Ghi chú
Dân số (01/4/2019) 8.053.663 người (Thành thị: 3.962.310; Nông thôn: 4.091.353) Đứng thứ 2 cả nước (sau TP.HCM)
Tốc độ tăng dân số bình quân (2009-2019) 2,22%/năm Cả nước: 1,14%/năm
Mật độ dân số trung bình năm 2019 2.398 người/km² (Thành thị: 9.343 người/km²) Đống Đa: 37.836 người/km² (quận cao nhất)
Tỷ lệ hộ sống trong nhà thiếu kiên cố & đơn sơ 0,9% Cả nước: 6,9%; Cần Thơ: 10,6%; Hải Phòng: 1,0%
Diện tích nhà ở bình quân đầu người (2019) 26,1 m²/người (Thành thị: 26,3; Nông thôn: 25,9) Cả nước: 23,5; TP.HCM: 19,4; Hải Phòng: 22,9 m²/người
Kết quả hoàn thành NOXH đến hết 2016 37 dự án hoàn thành, 1.176.000 m² sàn (11.800 hộ) 22 DA thu nhập thấp, 10 DA sinh viên, 5 DA công nhân
Tỷ lệ đáp ứng nhu cầu NOXH lũy kế đến 2017 1.008.000 m² / 6.000.000 m² nhu cầu Chỉ đạt 28,83% nhu cầu thực tế
Tình hình chuyển đổi NOTM sang NOXH 15 dự án xin chuyển đổi 6 dự án chấp thuận chủ trương, 6 dự án xem xét, 3 dự án không đủ điều kiện

Thực trạng các mặt cụ thể của NOXH tại Hà Nội:

  • Chất lượng xây dựng: Phần lớn công trình được cải thiện tiện ích, tuy nhiên một số dự án xuất hiện tình trạng xuống cấp nhanh, nứt tường, thấm dột (điển hình như phản ánh tại Ecohome 1, Ecohome 2).
  • Mất cân đối cung - cầu: Đến năm 2019, nguồn cung thiếu hơn 2,5 triệu m² sàn so với chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2020. Báo cáo Kiểm toán Nhà nước đầu năm 2020 chỉ ra trong số 15 dự án NOXH dự kiến hoàn thành giai đoạn 2016 - 2020 tại Hà Nội, chưa có dự án nào hoàn thành (2 dự án chưa triển khai, 7 dự án chưa có chấp thuận đầu tư, 1 dự án thiếu thông tin, 2 dự án dừng/thu hồi, 3 dự án xin chuyển sang NOTM).
  • Biến động giá bán: Giá bán có xu hướng tăng cao sau khi gói tín dụng 30.000 tỷ đồng kết thúc (thời điểm còn gói vay giá không vượt quá 15 triệu đồng/m²). Sang năm 2020, dự án Ecohome 3 có giá 16,378 triệu đồng/m², dự án tại quận Nam Từ Liêm lên tới 19,0 triệu đồng/m² (đã gồm VAT và phí bảo trì). Mức giá NOXH tại một số nơi cao hơn cả NOTM giá rẻ lân cận (NOXH Kiến Hưng bán 11 triệu đồng/m² so với NOTM Thanh Hà Cienco 9,5 triệu đồng/m²).
  • Thực trạng nghịch lý trong tiêu thụ: Dự án tại khu vực nội thành có tỷ lệ cạnh tranh cao, phải bốc thăm (như dự án Minh Khai của Handico 5 có số hồ sơ gấp 5 lần số căn hộ), trong khi các dự án vùng ven bị ế ẩm, mở bán nhiều lần không hết do thiếu hạ tầng kết nối:
Tên dự án NOXH vùng ven Tổng số căn hộ Số căn hộ đã bán Số lần mở bán
NOXH tại Quốc Oai 432 căn 322 căn 19 lần
NOXH AZ Thăng Long (Bright City, Hoài Đức) 1.496 căn 415 căn 11 lần (sau 3 năm đầu chỉ 6 người đăng ký)
NOXH tại ô đất 5.B2 (Đông Hội, Đông Anh) 504 căn 228 căn 7 lần
  • Nguyên nhân và tồn tại:
    • Về phía chính quyền: Quy hoạch vị trí NOXH chủ yếu đẩy ra vùng xa trung tâm, thiếu hạ tầng xã hội và giao thông; cơ chế chính sách thiếu đồng bộ (quy định dành 20% đất NOXH có sự bất cập giữa quy định của Thành phố cho dự án từ 10 ha trở lên và Nghị định 100/2015/NĐ-CP cho phép nộp bằng tiền); quy trình thủ tục hành chính kéo dài từ 3 đến 4 năm qua nhiều sở ngành (Sở Quy hoạch - Kiến trúc, Sở Xây dựng, Sở Tài chính); thiếu nguồn vốn tín dụng hỗ trợ sau gói 30.000 tỷ đồng.
    • Về phía nhà đầu tư: Định mức lợi nhuận bị khống chế tối đa 10%, lãi suất thương mại cao, thời gian thu hồi vốn dài; thiếu quỹ đất sạch tại vị trí thuận lợi; thủ tục phức tạp (nhiều gấp 1,5 lần dự án thương mại); khó khăn trong khâu xét duyệt hồ sơ người mua đúng đối tượng và khả năng chi trả của người lao động bị hạn chế.

Chương 3: Giải pháp phát triển nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội trong thời gian tiếp

Chương 3 trình bày các căn cứ định hướng và giải pháp can thiệp:

  • Quan điểm và mục tiêu phát triển đến 2020 và tầm nhìn 2030 (theo Quyết định số 996/QĐ-TTg và Quyết định số 2127/QĐ-TTg):
    • Mục tiêu đến năm 2020: Nâng diện tích nhà ở bình quân đạt 26,3 m²/người (tối thiểu 8,5 m²/người; thành thị 29,1 m², nông thôn 22,1 m²); tỷ lệ nhà kiên cố đạt 91,2%; xây dựng khoảng 800.000 chỗ ở cho sinh viên, 3.000.000 chỗ ở cho công nhân KCN, khoảng 2.000.000 m² sàn (32.000 căn hộ) cho các đối tượng chính sách, người thu nhập thấp; 2.100 m² nhà công vụ; 2.000.000 m² sàn tái định cư; tỷ lệ nhà cho thuê trong các dự án NOXH đạt tối thiểu 30%; tổng vốn đầu tư từ ngân sách Thành phố khoảng 6.968,2 tỷ đồng (chiếm 1,69% tổng vốn đầu tư xây dựng).
    • Định hướng đến năm 2030: Diện tích bình quân 31,5 m²/người (tối thiểu 12,6 m²/người); tỷ lệ nhà kiên cố đạt 93,2%; vốn ngân sách địa phương bố trí khoảng 9.505,8 tỷ đồng; tăng thêm 5 triệu m² đất ở đô thị và nông thôn.
  • Các nhóm giải pháp trọng tâm:
    • Giải pháp về phía chính quyền địa phương: Nghiên cứu chiến lược quy hoạch đồng bộ; rà soát, bố trí quỹ đất công và kiểm soát chặt chẽ việc trích lập quỹ đất 20% tại các dự án nhà ở thương mại; cải cách, rút ngắn quy trình thủ tục hành chính liên thông; xây dựng cơ chế tạo lập quỹ tài chính/nguồn vốn vay ưu đãi mới thay thế gói 30.000 tỷ đồng; tăng cường giám sát chất lượng thi công và quản lý vận hành.
    • Giải pháp về phía nhà đầu tư: Đổi mới công nghệ xây dựng và ứng dụng vật liệu mới để hạ giá thành; chủ động phối hợp với chính quyền trong công tác giải phóng mặt bằng; đa dạng hóa cơ cấu sản phẩm (tăng tỷ trọng căn hộ diện tích nhỏ, tối ưu hóa công năng); thực hiện minh bạch thông tin bán/cho thuê để tiếp cận đúng nhóm đối tượng thụ hưởng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống dữ liệu thực chứng: Văn bản tổng hợp các chuỗi số liệu cụ thể về cơ cấu dân số (8,05 triệu người năm 2019), mật độ đô thị (khu vực thành thị 9.343 người/km²), và phân tích chi tiết cán cân cung - cầu NOXH tại Hà Nội (lũy kế cung đến năm 2017 mới chỉ đáp ứng 28,83% nhu cầu).
  • Chỉ ra các nghịch lý thực tiễn: Làm rõ tình trạng phân hóa giữa các dự án nội đô (quá tải, bốc thăm) và dự án ngoại thành (ế ẩm, phải mở bán từ 7 đến 19 lần do thiếu hạ tầng kết nối); phản ánh thực trạng biến động giá bán NOXH chạm ngưỡng 16 - 19 triệu đồng/m² vào năm 2020 sau khi kết thúc gói 30.000 tỷ đồng.
  • Đóng góp về mặt giải pháp: So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ tập trung vào chính sách đơn thuần (Mai Hồng Thuận, 2014) hoặc góc độ cung - cầu cục bộ (Hoàng Thị Mậu, 2018), chuyên đề đã liên kết các giải pháp đa chiều giữa quy hoạch vị trí đất đai, thủ tục hành chính, định chế tài chính và công nghệ xây dựng từ cả góc độ cơ quan quản lý lẫn nhà đầu tư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi dữ liệu thực nghiệm dừng lại ở mốc thời gian đầu năm 2020; các số liệu khảo sát chủ yếu kế thừa từ nguồn thứ cấp (báo cáo của Sở Xây dựng, UBND Thành phố, Tổng cục Thống kê và Kiểm toán Nhà nước) mà chưa thực hiện khảo sát định lượng diện rộng trực tiếp từ các hộ dân sinh sống tại các khu NOXH.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá hiệu quả xã hội sau khi bàn giao đưa vào sử dụng tại các khu NOXH tập trung; phân tích tác động của các gói tín dụng chính sách mới sau giai đoạn kết thúc gói 30.000 tỷ đồng; nghiên cứu mô hình hợp tác công - tư (PPP) trong phát triển quỹ nhà ở cho thuê chuyên biệt cho công nhân tại các khu công nghiệp ngoại thành Hà Nội.

Giá trị tham khảo

Tài liệu là nguồn tư liệu hữu ích đối với:

  • Sinh viên, học viên các ngành Kinh tế đô thị, Quản lý đô thị, Quản lý bất động sản, Kinh tế phát triển khi tìm kiếm mô hình phân tích thực trạng cung - cầu nhà ở.
  • Người nghiên cứu về chính sách công và an sinh xã hội: Tham khảo bảng thống kê số liệu dân số, quy hoạch quỹ đất 20% và các bài học kinh nghiệm quốc tế (Singapore, Hàn Quốc, Malaysia) về quỹ tiết kiệm nhà ở.
  • Cơ quan quản lý và các nhà đầu tư bất động sản: Tham khảo các phân tích về điểm nghẽn thủ tục hành chính, định mức lợi nhuận 10% và các yếu tố cấu thành giá NOXH tại thị trường Hà Nội.

Câu hỏi thường gặp

1. Theo quy định của pháp luật được nêu trong văn bản, tiêu chuẩn diện tích một căn hộ chung cư nhà ở xã hội là bao nhiêu?
Theo Điều 7 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, căn hộ chung cư NOXH phải được thiết kế khép kín, diện tích sàn tối thiểu là 25 m² và tối đa là 70 m². UBND cấp tỉnh có thể điều chỉnh tăng tiêu chuẩn diện tích tối đa nhưng mức tăng không quá 10% so với mức 70 m², đồng thời tỷ lệ căn hộ trên 70 m² không được vượt quá 10% tổng số căn hộ trong dự án.

2. Mức lợi nhuận định mức tối đa của chủ đầu tư dự án nhà ở xã hội được khống chế ở mức nào?
Căn cứ Nghị định số 100/2015/NĐ-CP, giá bán do chủ đầu tư xác định trên cơ sở tính đủ chi phí thu hồi vốn, lãi vay và lợi nhuận định mức không vượt quá 10% tổng chi phí đầu tư. Đối với hình thức cho thuê hoặc cho thuê mua, lợi nhuận định mức của toàn bộ dự án không vượt quá 15% tổng chi phí đầu tư.

3. Vì sao xảy ra tình trạng một số dự án NOXH vùng ven Hà Nội bị ế ẩm dù nhu cầu toàn thành phố rất cao?
Văn bản nêu rõ nguyên nhân do các dự án vùng ven (như tại Quốc Oai, Hoài Đức, Đông Anh) nằm ở vị trí quá xa trung tâm, thiếu sự kết nối đồng bộ về hạ tầng giao thông và dịch vụ xã hội thiết yếu (trường học, bệnh viện, khu vui chơi). Ngoài ra, sau khi gói vay 30.000 tỷ đồng kết thúc, người mua nhà thiếu nguồn vốn vay hỗ trợ dài hạn với lãi suất thấp.

4. Dữ liệu Kiểm toán Nhà nước đầu năm 2020 chỉ ra điều gì về tiến độ 15 dự án NOXH dự kiến hoàn thành giai đoạn 2016 - 2020 tại Hà Nội?
Kết quả kiểm toán cho thấy chưa có dự án nào trong số 15 dự án trên hoàn thành đúng hạn. Trong đó, có 2 dự án chưa triển khai xây dựng, 7 dự án chưa có chấp thuận đầu tư, 1 dự án không có thông tin triển khai, 2 dự án bị dừng triển khai hoặc thu hồi, và 3 dự án đã được chấp thuận chuyển đổi sang nhà ở thương mại.

5. Mục tiêu diện tích nhà ở bình quân đầu người tại Hà Nội đến năm 2020 và 2030 được đặt ra như thế nào?
Theo Chương trình phát triển nhà ở TP. Hà Nội, mục tiêu đến năm 2020 là diện tích bình quân toàn thành phố đạt 26,3 m²/người (khu vực đô thị 29,1 m²/người, nông thôn 22,1 m²/người, diện tích tối thiểu 8,5 m²/người). Định hướng đến năm 2030, diện tích bình quân đạt 31,5 m²/người (khu vực đô thị 33,8 m²/người, nông thôn 27,1 m²/người, diện tích tối thiểu 12,6 m²/người).

Kết luận

Chuyên đề thực tập tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Hoa đã phản ánh bức tranh toàn diện về thị trường nhà ở xã hội tại thành phố Hà Nội trong giai đoạn 2015 - 2020 trên cơ sở đối chiếu khung pháp lý hiện hành và dữ liệu thống kê thực tế. Nghiên cứu đã làm rõ những mâu thuẫn cốt lõi giữa nhu cầu nhà ở giá thấp rất lớn của người dân với sự thiếu hụt nguồn cung, vướng mắc về quỹ đất 20%, thủ tục hành chính kéo dài và hạn chế về tín dụng ưu đãi. Hệ thống giải pháp đề xuất đã cung cấp những luận cứ thực tiễn quan trọng nhằm hỗ trợ cơ quan quản lý đô thị và các doanh nghiệp phối hợp tháo gỡ khó khăn, thúc đẩy phát triển bền vững phân khúc nhà ở xã hội tại Thủ đô.