Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện (CDTP) bằng thuốc Methadone (Methadone Maintenance Therapy - MMT) là biện pháp can thiệp điều trị chuẩn dành cho những người lệ thuộc opioid, đặc biệt là heroin. Điều trị Methadone bằng đường uống giúp người bệnh giảm cảm giác thèm thuốc, giảm tần suất và tiến tới từ bỏ việc sử dụng heroin bất hợp pháp, phục hồi chức năng tâm lý, xã hội, thể chất và giảm nguy cơ lây truyền các bệnh qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C.

Tại Việt Nam, chương trình MMT được bắt đầu thí điểm từ năm 2008 tại thành phố Hải Phòng và Thành phố Hồ Chí Minh. Sau giai đoạn thí điểm đạt kết quả tích cực, chương trình đã được nhân rộng trên toàn quốc. Tính đến tháng 3/2019, mô hình MMT đã phủ sóng tại 63/63 tỉnh, thành phố, cung cấp điều trị cho hơn 51.300 người nghiện ma túy, đạt 63,3% chỉ tiêu kế hoạch đề ra.

Tuy nhiên, tính tuân thủ điều trị là yếu tố tiên quyết quyết định sự thành công và tính bền vững của chương trình. Người bệnh không tuân thủ, bỏ liều hoặc bỏ trị có nguy cơ cao tái sử dụng CDTP, tiêm chích trở lại và vi phạm pháp luật. Tuyên Quang là một tỉnh miền núi phía Bắc, triển khai cơ sở điều trị Methadone đầu tiên từ tháng 12/2016. Đặc điểm địa hình đồi núi hiểm trở, giao thông đi lại khó khăn và khoảng cách địa lý đến các cơ sở y tế là những rào cản lớn đối với việc bệnh nhân phải đến cơ sở uống thuốc hằng ngày dưới sự giám sát trực tiếp của nhân viên y tế.

Để đánh giá thực trạng tuân thủ và xác định các khó khăn đặc thù tại địa phương miền núi, đề tài chuyên đề tốt nghiệp chuyên ngành Điều dưỡng Nội người lớn tại Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định đã thực hiện nghiên cứu với 2 mục tiêu cụ thể:

  1. Mô tả thực trạng tuân thủ điều trị methadone của người nghiện tại tỉnh Tuyên Quang năm 2020.
  2. Đề xuất một số giải pháp nâng cao việc tuân thủ điều trị methadone của người nghiện tại tỉnh Tuyên Quang.

Nghiên cứu được triển khai trên đối tượng là các bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đang tham gia điều trị MMT tại 02 cơ sở điều trị ngoại trú: Phòng khám điều trị Methadone thành phố Tuyên Quang và Phòng khám điều trị Methadone huyện Sơn Dương, tỉnh Tuyên Quang trong năm 2020.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung pháp lý và cơ sở lý thuyết

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và hướng dẫn chuyên môn của ngành y tế:

  • Luật Phòng, chống ma túy số 16/2008/QH12 của Quốc hội.
  • Nghị định số 96/2012/NĐ-CP của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
  • Quyết định số 3140/QĐ-BYT ngày 30/8/2010 của Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành Hướng dẫn điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone. Theo quy định này, tuân thủ điều trị đòi hỏi người bệnh phải uống thuốc đúng chỉ định, đúng liều lượng, đúng quy trình và phải đến cơ sở điều trị uống thuốc hằng ngày dưới sự giám sát trực tiếp của nhân viên y tế.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng thiết kế mô tả cắt ngang kết hợp giữa phương pháp định lượng và phương pháp định tính:

  1. Nghiên cứu định lượng:

    • Cỡ mẫu: Tính theo công thức ước tính cỡ mẫu cho một tỷ lệ với mức ý nghĩa thống kê $\alpha = 0{,}05$ ($Z_{1-\alpha/2} = 1{,}96$), tỷ lệ không tuân thủ ước tính từ nghiên cứu trước $p = 0{,}42$, độ chính xác tương đối $\epsilon = 0{,}5 \times p$. Cỡ mẫu lý thuyết tính toán là $n = 236$. Bổ sung 5% dự phòng không hoàn thành, tổng số tuyển vào là 247 bệnh nhân; sau khi làm sạch, số liệu của 241 bệnh nhân đủ điều kiện được đưa vào phân tích thống kê chính thức (167 bệnh nhân tại TP Tuyên Quang và 74 bệnh nhân tại huyện Sơn Dương). Cơ sở MMT Yên Sơn do số lượng điều trị quá ít ($n = 9$) nên không đưa vào phân tích để đảm bảo tính đại diện.
    • Phương pháp chọn mẫu: Chọn mẫu thuận tiện tất cả bệnh nhân $\ge 18$ tuổi đang điều trị tại 2 cơ sở cho đến khi đạt đủ cỡ mẫu.
    • Bộ công cụ thu thập số liệu: Bảng câu hỏi cấu trúc gồm các phần: thông tin nhân khẩu học; chất lượng cuộc sống (bộ công cụ EQ-5D-5L gồm 5 khía cạnh và thang điểm trực quan EQ-VAS từ 0 đến 100); tiền sử sử dụng chất và tiêm chích; hành vi nguy cơ sức khỏe (thuốc lá, rượu); tiếp cận dịch vụ MMT; và bộ 4 câu hỏi đo lường tuân thủ điều trị (thang đo VAS tự đánh giá $0-100$ điểm; số ngày bỏ thuốc trong 4 ngày gần nhất; tình trạng quên thuốc vào cuối tuần trước; thời điểm quên thuốc lần cuối trong 3 tháng). Người bệnh được xác định là tuân thủ điều trị tuyệt đối khi trả lời "không quên/không bỏ" ở tất cả các tiêu chí thời gian.
  2. Nghiên cứu định tính:

    • Sử dụng hướng dẫn phỏng vấn sâu (PVS) trên đối tượng bệnh nhân (BN) đã từng bỏ liều trong quá trình điều trị và người thân (NT) của bệnh nhân nhằm tìm hiểu nguyên nhân bỏ liều, rào cản địa lý, công việc và sự hỗ trợ từ gia đình.
  3. Quy trình thu thập và xử lý dữ liệu:

    • Thử nghiệm bộ công cụ trên 30 đối tượng trước khi thu thập chính thức.
    • Tiến hành phỏng vấn trực tiếp tại phòng kín đảm bảo bí mật thông tin sau khi đối tượng ký biên bản đồng thuận tham gia nghiên cứu. Phỏng vấn sâu được ghi âm và ghi chép có sự đồng ý của đối tượng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn

Chương này tổng quan về đặc tính dược lý của Methadone: là một opioid tổng hợp có tác dụng đồng vận hoàn toàn tại thụ thể mu-opioid, thời gian bán hủy kéo dài (trung bình 24 giờ), hấp thu tốt qua đường uống và phân bố sâu trong các mô (gan, phổi, thận, lách) trước khi giải phóng từ từ vào máu. Thuốc được chuyển hóa qua gan nhờ hệ thống enzym Cytochrome P450 và đào thải qua phân, nước tiểu, mồ hôi. Nhờ thời gian bán hủy dài, người bệnh chỉ cần uống thuốc 1 lần/ngày để kiểm soát hội chứng cai mà không gây ngộ độc hệ thần kinh trung ương hay tạo khoái cảm ở liều duy trì. Tác dụng phụ thường gặp bao gồm táo bón, tăng tiết mồ hôi, rối loạn chức năng tình dục, buồn nôn và tăng cân.

Chương 1 cũng hệ thống hóa các phương pháp đo lường tuân thủ điều trị trên thế giới và tại Việt Nam: đo lường qua số ngày bỏ liều liên tiếp, số ngày không uống thuốc trong tuần/tháng, và thang đo tự đánh giá trực quan (VAS). Tác giả so sánh các nghiên cứu quốc tế ghi nhận tỷ lệ không tuân thủ/bỏ điều trị dao động lớn: tại Mỹ (17%), Canada (15,5%), Anh và Pháp (khoảng 65%), Trung Quốc (36,3% đến 88,2%), Malaysia (38%). Tại Việt Nam, nghiên cứu tại Hải Phòng và TP Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ tuân thủ không bỏ liều đạt 92,5% - 96%, tại Hà Nội tỷ lệ ngừng điều trị là 5%, tại Đà Nẵng tỷ lệ tuân thủ là 73,4%.

Chương 2: Mô tả vấn đề cần giải quyết

Chương 2 mô tả bối cảnh địa bàn tỉnh Tuyên Quang (diện tích 5.860 $\text{km}^2$, dân số 750.000 người, 22 dân tộc). Tính đến ngày 15/11/2017, toàn tỉnh quản lý 1.197 người nghiện ma túy có hồ sơ. Tác giả trình bày chi tiết phương pháp nghiên cứu và kết quả khảo sát trên 241 bệnh nhân MMT tại TP Tuyên Quang và huyện Sơn Dương.

Bảng 1: Đặc điểm nhân khẩu học của đối tượng nghiên cứu ($n = 241$)

Đặc điểm TP Tuyên Quang ($n=167$) Sơn Dương ($n=74$) Tổng ($n=241$) Giá trị $p$
Giới tính (Nam) 167 (100,0%) 74 (100,0%) 241 (100,0%) -
Nhóm tuổi
18 – 29 tuổi 8 (4,8%) 5 (6,8%) 13 (5,4%) 0,70
30 – 39 tuổi 72 (43,1%) 31 (41,9%) 103 (42,7%)
40 – 49 tuổi 65 (38,9%) 25 (33,8%) 90 (37,3%)
$\ge 50$ tuổi 22 (13,2%) 13 (17,6%) 35 (14,5%)
Trình độ học vấn
Dưới THPT 71 (42,8%) 40 (57,1%) 111 (47,0%) 0,04
Từ THPT trở lên 95 (57,2%) 30 (42,9%) 125 (53,0%)
Tình trạng hôn nhân
Chưa kết hôn 45 (27,1%) 9 (12,9%) 54 (22,9%) 0,06
Đã kết hôn 97 (58,4%) 50 (71,4%) 147 (62,3%)
Ly thân/Ly hôn/Góa 24 (14,5%) 11 (15,7%) 35 (14,8%)
Dân tộc
Kinh 157 (97,5%) 56 (80,0%) 213 (92,2%) $<0{,}01$
Khác (thiểu số) 4 (2,5%) 14 (20,0%) 18 (7,8%)
Nghề nghiệp
Thất nghiệp 9 (5,4%) 6 (8,6%) 15 (6,4%) $<0{,}01$
Lao động tự do 87 (52,4%) 25 (35,7%) 112 (47,5%)
Nghề nghiệp ổn định 10 (6,0%) 29 (41,4%) 39 (16,5%)
Khác 60 (36,1%) 10 (14,3%) 70 (29,7%)

Bảng 2: Tiền sử sử dụng chất và can thiệp điều trị của đối tượng

Chỉ số / Đặc điểm TP Tuyên Quang Sơn Dương Toàn bộ mẫu Giá trị $p$
Sử dụng ma túy trong tháng qua 21 (13,0%) 10 (14,3%) 31 (13,4%) 0,79
Tuổi lần đầu dùng ma túy ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $23{,}7 \pm 7{,}7$ $25{,}8 \pm 7{,}5$ $24{,}4 \pm 7{,}6$ 0,06
Thời gian dùng ma túy ($\text{năm}, \text{TB} \pm \text{SD}$) $14{,}5 \pm 7{,}3$ $13{,}0 \pm 6{,}1$ $14{,}0 \pm 7{,}0$ 0,20
Tỷ lệ từng tiêm chích ma túy (TCMT) 162 (98,2%) 66 (95,7%) 228 (97,4%) 0,26
Số lần TCMT/tháng trước điều trị ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $38{,}5 \pm 36{,}4$ $10{,}2 \pm 17{,}7$ $30{,}8 \pm 34{,}6$ $<0{,}01$
Tỷ lệ từng cai nghiện 129 (80,6%) 63 (94,0%) 192 (84,6%) 0,01
Số lần cai nghiện trung bình ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $1{,}8 \pm 1{,}9$ $3{,}8 \pm 4{,}0$ $2{,}4 \pm 2{,}8$ $<0{,}01$
Thời gian điều trị MMT ($\text{tháng}, \text{TB} \pm \text{SD}$) $16{,}4 \pm 9{,}2$ $12{,}7 \pm 6{,}7$ $15{,}3 \pm 8{,}7$ $<0{,}01$
Quãng đường đến cơ sở MMT ($\text{km}, \text{TB} \pm \text{SD}$) $2{,}3 \pm 1{,}6$ $11{,}3 \pm 12{,}8$ $5{,}0 \pm 8{,}2$ $<0{,}01$
Thời gian đi đến cơ sở MMT ($\text{phút}, \text{TB} \pm \text{SD}$) $7{,}1 \pm 4{,}9$ $17{,}6 \pm 15{,}3$ $10{,}2 \pm 10{,}5$ $<0{,}01$
Tỷ lệ nhiễm HIV dương tính 32 (19,2%) 27 (36,5%) 59 (24,5%) $<0{,}01$
Điểm chất lượng cuộc sống EQ-5D ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $0{,}87 \pm 0{,}21$ $0{,}93 \pm 0{,}17$ $0{,}88 \pm 0{,}20$ 0,04
Điểm trực quan EQ-VAS ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $82{,}4 \pm 16{,}5$ $80{,}7 \pm 12{,}1$ $81{,}8 \pm 15{,}3$ 0,46

Về các biện pháp hỗ trợ tuân thủ điều trị, đa số người bệnh dựa vào biện pháp tự ghi nhớ (89,2%), người nhà nhắc nhở chiếm 28,2%, nhận tin nhắn điện thoại di động chiếm 14,0%, đặt chuông đồng hồ chiếm 7,0%, không dùng biện pháp nào chiếm 3,0% và chọn công việc theo ca linh động thời gian chiếm 2,1%. Về hỗ trợ từ bạn bè, có 51,5% bệnh nhân không nhận được bất kỳ sự hỗ trợ nào; 38,2% nhận được sự nhắc nhở từ bạn bè.

Bảng 3: Thực trạng tuân thủ điều trị Methadone theo các phương pháp đo lường

Tiêu chí đo lường tuân thủ TP Tuyên Quang Sơn Dương Toàn bộ mẫu Giá trị $p$
Quên thuốc trong 4 ngày gần nhất
Không quên (Tuân thủ) 152 (91,0%) 67 (90,5%) 219 (90,9%) 0,21
Quên 1 ngày 12 (7,2%) 3 (4,1%) 15 (6,2%)
Quên 2 – 4 ngày 3 (1,8%) 4 (5,4%) 7 (2,9%)
Quên thuốc vào cuối tuần trước
Không quên 157 (94,0%) 71 (96,0%) 228 (94,6%) 0,63
Có quên 8 (4,8%) 3 (4,1%) 11 (4,6%)
Không nhớ 2 (1,2%) 0 (0,0%) 2 (0,8%)
Lần cuối quên thuốc trong 3 tháng qua
Không quên 64 (44,1%) 21 (47,3%) 85 (45,0%) $<0{,}01$
Trong vòng 1 tuần 8 (5,5%) 6 (13,6%) 14 (7,4%)
Từ 1 – 2 tuần trước 5 (3,5%) 4 (9,1%) 9 (4,8%)
Từ 2 – dưới 4 tuần trước 10 (6,9%) 4 (9,1%) 14 (7,4%)
Từ 1 – dưới 2 tháng trước 13 (9,0%) 1 (2,3%) 14 (7,4%)
Từ 2 – 3 tháng trước 36 (24,8%) 3 (6,8%) 39 (20,6%)
Không nhớ 9 (6,2%) 5 (11,4%) 14 (7,4%)
Đánh giá tuân thủ tổng hợp (J2-J4)
Tuân thủ (Không vi phạm mốc nào) 62 (37,1%) 21 (28,4%) 83 (34,4%) 0,19
Không tuân thủ 105 (62,9%) 53 (71,6%) 158 (65,6%)
Tự đánh giá thang điểm VAS
Đạt tuân thủ ($\ge 90$ điểm) 86 (53,8%) 35 (50,7%) 121 (52,8%) 0,67
Không đạt ($< 90$ điểm) 74 (46,3%) 34 (49,3%) 108 (47,2%)
Điểm VAS tự đánh giá ($\text{TB} \pm \text{SD}$) $92{,}0 \pm 10{,}3$ $91{,}5 \pm 10{,}9$ $91{,}9 \pm 10{,}5$ 0,58

Chương 3: Bàn luận

Tác giả phân tích tỷ lệ không tuân thủ điều trị theo tiêu chuẩn khắt khe trong nghiên cứu đạt mức 65,6% (chỉ có 34,4% đạt tuân thủ tuyệt đối). Tỷ lệ này cao hơn đáng kể so với các nghiên cứu ở vùng đồng bằng tại Việt Nam (như nghiên cứu của Bộ Y tế năm 2011 hay tại Đà Nẵng năm 2015). Sự khác biệt được giải thích bởi:

  1. Rào cản địa lý và thời gian: Bệnh nhân tại huyện miền núi Sơn Dương phải di chuyển quãng đường trung bình 11,3 km và mất 17,6 phút mỗi ngày để đến cơ sở uống thuốc, dài hơn nhiều so với bệnh nhân tại TP Tuyên Quang (2,3 km và 7,1 phút).
  2. Nhận thức của người bệnh về việc bỏ liều ngắn ngày: Bệnh nhân thường có tâm lý chủ quan cho rằng việc bỏ 1-2 buổi uống thuốc khi bận công việc là "không có vấn đề gì", xuất phát từ việc quy định y tế không yêu cầu dò lại liều nếu chỉ bỏ 1-2 ngày.
  3. Kỳ thị và áp lực tâm lý: 25,9% bệnh nhân gặp vấn đề lo âu/trầm cảm và cảm giác tự ti khi đến cơ sở điều trị hằng ngày.
  4. Áp lực đối với cán bộ y tế: Cơ sở MMT phải duy trì hoạt động cấp phát thuốc liên tục 365 ngày trong năm (kể cả lễ, Tết, thứ Bảy, Chủ nhật), trong khi biên chế nhân lực còn thiếu và phải làm việc kiêm nhiệm, ảnh hưởng đến thời gian tư vấn chuyên sâu cho từng bệnh nhân.

Chương 4: Kết luận

Chương này tổng kết lại hai nhóm kết quả chính:

  • Thực trạng tuân thủ: 90,9% bệnh nhân không quên thuốc trong 4 ngày gần nhất; 94,6% không quên vào cuối tuần trước; 45,0% không quên liều nào trong vòng 3 tháng qua. Tính chung theo tiêu chuẩn tổng hợp, tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt 34,4% (không tuân thủ là 65,6%). Tỷ lệ tự đánh giá đạt mức tuân thủ ($\ge 90$ điểm VAS) là 52,8% với điểm trung bình đạt $91{,}9 \pm 10{,}5$.
  • Nhóm giải pháp đề xuất: Nâng cao chất lượng tư vấn, tập huấn cho bệnh nhân; truyền thông giảm kỳ thị trong cộng đồng; tăng cường phối hợp liên ngành (công an, chính quyền, y tế, gia đình); hỗ trợ đào tạo nghề, việc làm; và bổ sung nhân lực cho các cơ sở điều trị MMT.

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  • Mức độ tuân thủ điều trị: Xác định rõ sự chênh lệch giữa các mốc thời gian đo lường: tuân thủ ngắn hạn trong 4 ngày đạt mức cao (90,9%), nhưng khi mở rộng ra khoảng thời gian 3 tháng, tỷ lệ tuân thủ tuyệt đối giảm xuống còn 34,4%.
  • Đặc điểm dịch tễ và hành vi: Toàn bộ mẫu nghiên cứu là nam giới (100%), độ tuổi trung bình tập trung từ 30 – 49 tuổi (80,0%). Tỷ lệ từng tiêm chích ma túy lên tới 97,4%; tỷ lệ nhiễm HIV dương tính là 24,5% (trong đó huyện Sơn Dương chiếm tới 36,5%, cao hơn có ý nghĩa thống kê so với TP Tuyên Quang là 19,2%).
  • Các yếu tố cản trở: Khoảng cách di chuyển lớn tại huyện miền núi (Sơn Dương trung bình 11,3 km), công việc bận rộn trong tuần, tỷ lệ trầm cảm/lo âu (25,9%), thiếu sự hỗ trợ từ bạn bè (51,5% không nhận được hỗ trợ) và rào cản tâm lý do sợ bị kỳ thị.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Đối với cơ sở điều trị: Tổ chức các lớp tập huấn, truyền thông nâng cao nhận thức cho người bệnh về tầm quan trọng của việc uống thuốc đều đặn hằng ngày, không tự ý bỏ liều; tăng cường nhân lực chuyên trách cho phòng khám MMT để đảm bảo phục vụ liên tục 365 ngày/năm.
  • Đối với gia đình và xã hội: Đẩy mạnh truyền thông cộng đồng nhằm giảm kỳ thị, phân biệt đối xử; huy động người thân tham gia nhắc nhở, hỗ trợ tâm lý cho bệnh nhân.
  • Đối với chính quyền và các ban ngành: Phối hợp chặt chẽ giữa ngành Y tế, Công an và chính quyền địa phương trong việc quản lý và vận động người nghiện tham gia điều trị; tạo điều kiện hỗ trợ đào tạo nghề, tìm kiếm việc làm giúp người bệnh có thu nhập ổn định và tái hòa nhập cộng đồng.

Đóng góp của đề tài

Đề tài cung cấp bộ dữ liệu thực chứng đầu tiên về mức độ tuân thủ điều trị MMT tại một tỉnh miền núi phía Bắc (Tuyên Quang), phản ánh rõ rệt những khó khăn đặc thù về mặt địa lý và tổ chức y tế cơ sở so với các nghiên cứu trước đây vốn chủ yếu tập trung tại các đô thị và vùng đồng bằng lớn.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện tại 02 cơ sở điều trị và chưa đưa cơ sở MMT huyện Yên Sơn vào phân tích do quy mô bệnh nhân quá nhỏ. Việc đo lường tuân thủ điều trị dựa trên phỏng vấn hồi tưởng (3 tháng qua) và tự đánh giá (VAS) có thể chịu ảnh hưởng nhất định của sai số nhớ lại (recall bias) hoặc tâm lý e ngại của bệnh nhân khi khai báo với nhân viên y tế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Cần mở rộng nghiên cứu theo dõi dọc (longitudinal cohort study) kết hợp đối chiếu dữ liệu phần mềm quản lý cấp phát thuốc hàng ngày và xét nghiệm định kỳ chất gây nghiện trong nước tiểu để đánh giá chính xác hơn các yếu tố dự báo bỏ trị lâu dài tại các địa bàn miền núi.

Giá trị tham khảo

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp này là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:

  • Học viên, sinh viên ngành Điều dưỡng, Y tế công cộng và Y học dự phòng: Tham khảo về phương pháp thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang kết hợp định tính và định lượng, cách ứng dụng bộ công cụ đánh giá chất lượng cuộc sống EQ-5D-5L và các thang đo tuân thủ điều trị nghiện chất.
  • Cán bộ quản lý y tế và nhân viên tại các cơ sở điều trị MMT tuyến tỉnh/huyện: Vận dụng các phát hiện thực tế về rào cản đi lại, tâm lý bỏ liều và nhu cầu hỗ trợ xã hội để xây dựng quy trình tư vấn, nhắc nhở và phân bổ ca trực phù hợp cho nhân viên y tế.

Câu hỏi thường gặp

1. Tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone tổng hợp của bệnh nhân tại Tuyên Quang là bao nhiêu?

Theo tiêu chuẩn đánh giá tổng hợp của nghiên cứu (kết hợp các mốc thời gian không bỏ liều trong 4 ngày, cuối tuần trước và trong vòng 3 tháng qua), tỷ lệ tuân thủ điều trị đạt 34,4% (83/241 bệnh nhân), trong khi tỷ lệ không tuân thủ chiếm 65,6% (158/241 bệnh nhân).

2. Khoảng cách và thời gian di chuyển đến cơ sở MMT giữa TP Tuyên Quang và huyện Sơn Dương khác nhau như thế nào?

Có sự khác biệt rõ rệt và có ý nghĩa thống kê ($p < 0{,}01$): bệnh nhân tại huyện Sơn Dương phải di chuyển quãng đường trung bình $11{,}3 \pm 12{,}8\text{ km}$ (mất trung bình $17{,}6 \pm 15{,}3\text{ phút}$), trong khi bệnh nhân tại TP Tuyên Quang chỉ di chuyển trung bình $2{,}3 \pm 1{,}6\text{ km}$ (mất trung bình $7{,}1 \pm 4{,}9\text{ phút}$).

3. Tỷ lệ nhiễm HIV và các hành vi nguy cơ sức khỏe của bệnh nhân trong nghiên cứu được ghi nhận ra sao?

Tỷ lệ đối tượng có kết quả xét nghiệm HIV dương tính là 24,5% (59/241 người), trong đó cơ sở Sơn Dương có tỷ lệ nhiễm cao hơn đáng kể (36,5%) so với TP Tuyên Quang (19,2%, $p < 0{,}01$). Ngoài ra, có 75,7% bệnh nhân hút thuốc lá và 33,1% bệnh nhân có sử dụng rượu bia.

4. Biện pháp hỗ trợ ghi nhớ uống thuốc nào được bệnh nhân sử dụng phổ biến nhất?

Biện pháp được sử dụng nhiều nhất là tự ghi nhớ (89,2% bệnh nhân áp dụng), tiếp theo là người nhà nhắc nhở (28,2%), nhận tin nhắn điện thoại (14,0%), đặt chuông đồng hồ (7,0%), không dùng biện pháp nào (3,0%) và chọn công việc theo ca linh động thời gian (2,1%).

5. Kết quả tự đánh giá mức độ tuân thủ điều trị qua thang điểm trực quan (VAS) đạt mức nào?

Điểm trung bình tự đánh giá mức độ tuân thủ của bệnh nhân trên thang điểm 100 đạt $91{,}9 \pm 10{,}5\text{ điểm}$. Tỷ lệ bệnh nhân tự chấm điểm đạt mức tuân thủ ($\ge 90\text{ điểm}$) là 52,8% (121/241 người), và có 47,2% bệnh nhân tự đánh giá dưới 90 điểm.


Kết luận

Báo cáo chuyên đề tốt nghiệp của học viên Nguyễn Thị Thu Hương đã phản ánh bức tranh toàn diện về thực trạng tuân thủ điều trị Methadone tại hai cơ sở ngoại trú thuộc tỉnh miền núi Tuyên Quang năm 2020. Nghiên cứu chỉ ra rằng mặc dù tỷ lệ tuân thủ ngắn hạn trong vài ngày đạt trên 90%, tỷ lệ tuân thủ điều trị tuyệt đối trong 3 tháng chỉ đạt 34,4% do các rào cản lớn về khoảng cách địa lý, áp lực công việc và nhận thức chưa đầy đủ về tác hại của việc bỏ liều. Các giải pháp được đề xuất tập trung vào nâng cao năng lực tư vấn của điều dưỡng, tăng cường phối hợp liên ngành, hỗ trợ sinh kế và giảm thiểu kỳ thị xã hội nhằm duy trì hiệu quả bền vững của chương trình MMT tại địa phương.