CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Các khái niệm trong nghiên cứu Chất ma túy: Theo Luật phòng, chống ma túy và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật phòng, chống ma túy, “Chất ma túy là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chính phủ ban hành” [11]. Chất gây nghiện: là chất kích thích hoặc ức chế thần kinh, dễ gây tình trạng nghiện đối với người sử dụng [11]. Chất hướng thần: là chất kích thích, ức chế thần kinh hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần có thể dẫn tới tình trạng nghiện đối với người sử dụng [11].
Người nghiện ma túy: Những người sử dụng chất ma túy và trở thành phụ thuộc vào các chất này [11]. Chất dạng thuốc phiện (CDTP): là tên gọi chung cho nhiều chất như thuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine, Fentanyle, là những chất gây nghiện mạnh (gây khoái cảm mạnh); có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhận tương tự ở não [17]. Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuý đang sử dụng ở những người nghiện ma tuý. Biểu hiện lâm sàng của hội chứng cai khác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng [17].
Methadone: là một CDTP tổng hợp, có tác dụng dược lý tương tự như các CDTP khác, nhưng không gây nhiễm độc hệ thần kinh trung ương và không gây khoái cảm ở liều điều trị, có thời gian bán huỷ dài (trung bình là 24 giờ) nên chỉ cần sử dụng 1 lần trong 1 ngày là đủ để không xuất hiện hội chứng cai. Methadone có độ dung nạp ổn định nên ít phải tăng liều khi điều trị lâu dài [17]. Chương trình điều trị MMT: Chương trình điều trị cho người nghiện các CDTP, thường được thực hiện tại một phòng khám ngoại trú. Chương trình này sử dụng một loại thuốc dạng thuốc phiện tổng hợp, thường là methadone hoặc LAAM (Levo-Alpha Acetylmethadol), dùng bằng đường uống trong một thời gian dài, đủ liều để ngăn chặn hội chứng cai, ngăn chặn những tác động của việc sử dụng thuốc phiện bất hợp pháp, và giảm sự thèm muốn thuốc phiện.
5 Bệnh nhân: Những người tham gia chương trình điều trị MMT. Hầu hết trong số họ là những người đã sử dụng heroin. Hành vi SDMT: Hành vi SDMT khi tham gia chương trình điều trị MMT. Hành vi SDMT của bệnh nhân được xác định nếu bệnh nhân có bất kỳ một trong các điều kiện sau đây trong vòng 30 ngày trước khi đánh giá: 1) tự báo cáo có SDMT, hoặc 2) dương tính với xét nghiệm nước tiểu các CDTP.
SDMT bất hợp pháp: Bệnh nhân SDMT trong quá trình tham gia chương trình điều trị MMT bằng cách mua bán bất hợp pháp. Hành vi vi phạm pháp luật: Tự báo cáo hành vi vi phạm pháp luật trước và sau khi tham gia vào chương trình điều trị MMT, như: trộm cắp, cướp giật, hành hung, gian lận… Hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV (gọi tắt là hành vi nguy cơ) bao gồm: Quan hệ tình dục không sử dụng bao cao su, không sử dụng bơm kim tiêm sạch khi tiêm chích ma túy. Tuân thủ điều trị methadone: Tại thời điểm tiến hành nghiên cứu (năm 2009), việc chỉ định điều trị methadone cho bệnh nhân được thực hiện dựa theo Hướng dẫn điều trị các CDTP bằng thuốc methadone được Bộ Y tế ban hành năm 2007. Căn cứ theo hướng dẫn này, tình trạng tuân thủ điều trị của bệnh nhân nghiên cứu được định nghĩa như sau: 1) Tuân thủ điều trị tốt: bệnh nhân không bỏ (dừng) bất cứ một ngày uống thuốc nào trong khoảng thời gian theo dõi; 2) Tuân thủ điều trị trung bình: bệnh nhân bỏ (dừng) 1-2 ngày uống thuốc – theo quy định sẽ không thay đổi liều methadone khi quay lại điều trị; 3) Tuân thủ điều trị kém: bệnh nhân bỏ (dừng) từ 3 ngày uống thuốc liên tục hoặc nhiều hơn – theo quy định sẽ quay lại với một nửa liều methadone đang điều trị hoặc khởi liều methadone lại từ đầu, tùy theo số ngày bỏ (dừng) uống thuốc [17].
Thang điểm trầm cảm Kessler: Thang đo Kessler bao gồm 10 câu hỏi được sử dụng để đánh giá mức độ trầm cảm của đối tượng tham gia trong nghiên cứu này [74]. Điểm Kessler (điểm tổng của 10 câu hỏi trong thang đo) được sử dụng để xác định nguy cơ trầm cảm, theo đó một bệnh nhân được xác định có nguy cơ trầm cảm khi có điểm Kessler nhỏ hơn hoặc bằng 15. 6 Tác dụng phụ trong quá trình điều trị methadone: Tự báo cáo có các tác dụng phụ không mong muốn xảy ra trong quá trình điều trị methadone, bao gồm: táo bón, tăng tiết mồ hôi, có vấn đề về tình dục, khô miệng, bí/khó tiểu… Có vấn đề về sức khỏe trong quá trình điều trị methadone: Tự báo cáo có gặp các vấn đề liên quan đến sức khỏe (ảnh hưởng đến sức khỏe ở mức trung bình hoặc ảnh hưởng nhiều) trong vòng 30 ngày trước các thời điểm phỏng vấn. Tình hình nghiện ma túy, nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và tại Việt Nam 1.
Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Tình hình nghiện ma túy trên thế giới Trong những năm qua, mặc dù các nước trên thế giới đã có nhiều nỗ lực trong công tác phòng, chống ma túy nhưng tệ nạn ma túy và hoạt động của các loại tội phạm ma túy vẫn diễn biến hết sức phức tạp. Theo UNODC tính đến hết năm 2012, toàn thế giới có khoảng 162 - 324 triệu người trong độ tuổi từ 15 - 64 sử dụng ma túy, chiếm khoảng 3,5% - 7,0% dân số thế giới. Trong các loại ma túy được sử dụng, đứng đầu là nghiện Cần sa, chiếm từ 2,8% - 5% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64 (Cần sa từ 129 - 230 triệu người), đứng thứ hai là nghiện các loại ma tuý tổng hợp, ước tính có khoảng từ 24,4 - 81,9 triệu người sử dụng ma túy tổng hợp trong năm qua, chiếm 0,5% - 1,79% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64, đứng thứ ba là nghiện các chất dạng thuốc phiện, chiếm 0,9% - 1,2% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15 - 64 (40,6 - 56,4 triệu người) và cuối cùng là nghiện cocain, chiếm 0,3% đến 0,45% dân số thế giới trong độ tuổi từ 15-64 (13,9 - 20,7 triệu người) [31]. Trong bản đồ sử dụng ma túy trên thế giới: Khu vực Bắc Mỹ là thị trường ma túy bất hợp pháp lớn nhất thế giới, mặc dù các vùng khác đều là nơi sản xuất hoặc tổng hợp ma túy.
Châu Phi và Châu Mỹ là nơi tập trung sản xuất các loại ma túy từ cần sa (mặc dù cần sa có thể được trồng tại hầu hết các nước trên thế giới). Châu Á là nơi sản xuất các loại ma túy có nguồn gốc từ thuốc phiện, Nam Mỹ là cocain, Châu Âu, Châu Á và Bắc Mỹ là các loại ma túy tổng hợp. Cần sa được sử dụng nhiều nhất tại Châu Đại Dương, Bắc Mỹ và Châu Phi. Cocaine được sử dụng nhiều nhất tại Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Tây Âu và một vài năm gần đây là Châu Đại Dương.
Nhóm ma túy 7 các CDTP (opiats) được sử dụng nhiều nhất tại Trung Đông, Trung Á, Châu Âu và Bắc Mỹ. Ma túy tổng hợp được sử dụng nhiều nhất tại Châu Đại Dương, Đông và Nam Á, Bắc Mỹ và Châu Âu [29]. Tệ nạn ma tuý đã ảnh hưởng không nhỏ tới sức khoẻ cộng đồng, sự phát triển của kinh tế, xã hội và đe dọa an ninh quốc gia không chỉ ở những nước đang phát triển mà còn cả những nước đã phát triển.1: Bản đồ sử dụng ma túy trên thế giới năm 2008 [29] Việc sử dụng thuốc phiện, heroin bằng cách tiêm chích vẫn là một nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nước trong khu vực Đông Nam Á. Việc lạm dụng và buôn bán chất kích thích thuộc nhóm amphetamine (ATS) đang lan rộng một cách nhanh chóng ở khu vực Đông Nam Á.
Trong khu vực “tam giác vàng”, các phương tiện trước đây được sử dụng để điều chế heroin cũng đang được sử dụng để sản xuất Methamphetamine. Trung Quốc hiện nay vẫn đang là nơi sản xuất bí mật chất ATS. Ở Thái Lan, ATS trở trành một loại ma túy được sử dụng rộng rãi trong sinh viên [31]. SDMT bất hợp pháp gây ra 4 nhóm ảnh hưởng chính đối với sức khỏe như là: Các ảnh hưởng cấp tính, bao gồm cả sốc quá liều; Các hậu quả tức thì do sử dụng ma túy như là chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực; Tình trạng lệ thuộc ma túy hay còn gọi là nghiện ma túy; Các ảnh hưởng mãn tính do sử dụng ma túy thường xuyên như là các bệnh mãn tính (bệnh mạch vành, xơ gan…), các bệnh lây truyền qua đường 8 máu do vi khuẩn, vi-rút (HIV, Viêm gan B, Viêm gan C.) và các rối loạn tâm thần [81].
Ước tính của UNODC có khoảng từ 102.000 trường hợp bị tử vong năm 2012 có liên quan đến ma túy, tương ứng với tỷ lệ từ 22,3 đến 55,4 ca tử vong trên một triệu dân trong độ tuổi từ 15-64 [31].Theo UNODC, trong 14 triệu người TCMT có khoảng 1,6 triệu người (từ 1,2-3,9 triệu người) đang sống chung với HIV, chiếm khoảng 11,5% số người tiêm chích ma túy trên toàn cầu. Ngoài tình trạng nhiễm HIV thì tình trạng nhiễm HCV và HBV trong nhóm TCMT cũng rất cao: ước tính tỉ lệ nhiễm HCV trong nhóm tiêm chích ma túy trên toàn cầu là 51,0%, tương đương với 7,2 triệu người tiêm chích ma túy đang sống chung với HCV vào cuối năm 2011, tỉ lệ nhiễm HBV trong nhóm TCMT thấp hơn rất nhiều tỉ lệ nhiễm HCV, tỉ lệ nhiễm HBV là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người (số liệu được tổng hợp từ báo cáo của 63 quốc gia) [31]. Tình hình nhiễm HIV/AIDS trên thế giới Theo ước tính của UNAIDS, đến cuối năm 2012, trên toàn cầu có khoảng 35,3 triệu trường hợp nhiễm HIV, khoảng 0,8% người trưởng thành trong độ tuổi từ 15- 49 trên toàn thế giới sống chung với HIV. Mặc dù số trường hợp nhiễm HIV mới giảm nhưng do việc mở rộng chương trình điều trị Antiretroviral - Thuốc kháng virus (ARV) nên số tử vong do AIDS cũng giảm, vì vậy đã làm cho số trường hợp hiện nhiễm HIV tăng 43% so với năm 1999 (từ 24,6 triệu lên 35,3 triệu).
Ước tính số trẻ em hiện nhiễm HIV tăng lên 2,3 triệu (1,7 triệu lên 3,4 triệu). Tỷ lệ trường hợp nhiễm HIV là nữ vẫn duy trì tương đối ổn định, xấp xỉ 52% tổng số nhiễm HIV của toàn cầu. Năm 2012, ước tính có khoảng 2,3 triệu trường hợp nhiễm HIV mới, mỗi ngày có 6.