phần mở đầu và phẩn kết luận, khóa luận tốt nghiệp được chia thành 3 chương: Chƣơng 1: Các vấn để lý luận cơ bản về đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài Chƣơng 2: Thực trạng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc tại Việt Nam giai đoạn 1988- 2018 Chƣơng 3: Một số biện pháp tăng cƣờng thu hút vốn đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam 3 CHƢƠNG 1: CÁC VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐẦU TƢ TRỰC TIẾP NƢỚC NGOÀI 1. Khái niệm đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài 1. Khái niệm đầu tư Đầu tư là quá trình các nguồn lực về tài chính, lao động, tài nguyên thiên “ nhiên và các tài sản vật chất khác được sử dụng nhằm trực tiếp hoặc gián tiếp sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các cơ sở vật chất kỹ thuật của nền kinh tế. Xuất phát từ phạm vi phát huy tác dụng của các kết quả đầu tư, có thể có những cách hiểu khác nhau về đầu tư.
” Đầu tư theo nghĩa rộng là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành “ hoạt động nào đó nhằm thu về cho người đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả nào đó. Nguồn ” lực có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Các kết quả đạt được có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính, tài sản vật chất, tài sản trí tuệ và nguồn lực. Đầu tư theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm những hoạt động sử dụng các nguồn “ lực ở hiện tại nhằm đem lại cho nền kinh tế - xã hội những kết quả trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã sử dụng để đạt được kết quả đó.
” Bên cạnh đó, theo Luật đầu tư 2005 đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản và tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật đầu tư và các quy định khác của pháp luật liên quan. Theo Luật đầu tư 2014 đã quy định khái niệm đầu tư thành đầu tư kinh doanh: đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập các tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư. 4 Cuối cùng, khái niệm đầu tư có thể định nghĩa là: “ Đầu tư là hoạt động sử dụng các nguồn lực như tài chính, vật chất, lao động và trí tuệ để sản xuất kinh doanh trong một thời gian dài nhằm thu lại lợi nhuận và lợi ích kinh tế - xã hội”. Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài Cùng với tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa đời sống kinh tế, đến nay đầu tư trực tiếp trực tiếp ngoài không còn là vấn đề mới trên toàn thế giới.
Hầu hết các nước trên thế giới đang thực hiện quá trình đầu tư trực tiếp nước ngoài nên khái niệm về FDI đã trở thành một khái niệm phổ biến xuất phát từ nhiều góc độ, khía cạnh và quan điểm nghiên cứu khác nhau và được ghi nhận trong luật đầu tư của các tổ chức và các nước. Theo Quỹ tiền tệ quốc tế - IMF định nghĩa thì FDI là "Nguồn vốn được đầu tư trực tiếp từ nước ngoài được đầu tư với mục đích thu hút lợi ích lâu dài tại một doanh nghiệp đang hoạt động tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư. Mục đích là giành quyền quản lý và chi phối được doanh nghiệp đó và đạt hiệu quả cao trong quản lý doanh nghiệp”. Theo Ủy ban liên hợp quốc về thương mại và phát triển (UNCTAD) thì FDI là "Một khoản đầu tư bao gồm mối quan hệ trong dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hay công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư nước ngoài trực tiếp, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài).
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “ Để thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp và mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp phải cần tới hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài”. 5 Như vậy, dù nhìn dưới góc độ nào, có rất nhiều quan điểm khác nhau về đầu tư trực tiếp nước ngoài, thì FDI đều là hoạt động kinh doanh dựa trên cơ sở của quá trình đổi mới có tính tuần hoàn giữa các quốc gia và theo những hình thức nhất định, trong đó chủ đầu tư FDI tham gia trực tiếp vào quá trình đầu tư. Các hình thức chủ yếu của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài tại Việt Nam Thực tế FDI có nhiều hình thức khác nhau và phân loại theo các chủ thể. Các hình thức được áp dụng chủ yếu là hợp đồng hợp tác kinh doanh, doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh, đối tác công tư Hợp đồng hợp tác kinh doanh Hợp đồng hợp tác kinh doanh (Business Cooperation Contract - BCC) là hình thức đầu tư được ký kết giữa hai bên hoặc các nhà đầu tư với mục đích hợp tác kinh doanh phân chia lợi nhuận, phân chia sản phẩm mà không thành lập pháp nhân.
Những ưu điểm của hình thức này là giải quyết tình trạng thiếu vốn, công nghệ; tạo thị trường mới, bảo đảm được quyển quản lý và điều hành dự án của “ các nước sở tại, lợi nhuận thu vào tương đối ổn định. Ngoài những ưu điểm kể ” trên, song hình thức này còn một số hạn chế như là khó khăn trong việc tiếp nhận kinh nghiệm điều hành và công nghệ thường cũ, lạc hậu. Doanh nghiệp liên doanh Doanh nghiệp liên doanh là được hình thành trên cơ sở hợp đồng liên doanh ký kết giữa các nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài, giữa Bên hoặc các Bên nước chủ nhà với Bên hoặc các Bên nước ngoài đầu tư kinh doanh tại nước sở tại. Trong hình thức này, nước tiếp nhận đầu tư có những lợi ích như là được tiếp nhận vốn, công nghệ; chia sẻ rủi ro; tạo việc làm, tiếp thu kinh nghiệm quản lý và dễ kiểm soát đối tác nước ngoài.
Còn nhược điểm là thường xảy ra mâu thuẫn trong quản lý và điều hành doanh nghiệp giữa các bên; nước sở tại thường 6 rơi vào thế bất lợi do tỷ lệ vốn góp thấp, trình độ, năng lực quản lý của cán bộ tham gia liên quan còn yếu kém. Còn lợi ích đối với các nhà đầu tư FDI là được thâm nhập thị trường mới hiệu quả; được sử dụng cơ sở vật chất, quan hệ kinh doanh, hiểu biết của đối tác nước sở tại. Tuy nhiên, các nhà đầu tư FDI thường hay phụ thuộc vào đối tác trong nước trong quản lý và điều hành doanh nghiệp. Hình thức doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Hình thức này là nhà đầu tư nước ngoài đầu tư 100% vốn.
Hình thức 100% vốn nước ngoài cũng được sử dụng khá nhiều tại các nước và được nhiều tập đoàn, công ty sử dụng khi quyết định đầu tư ra nước ngoài. Đối với nước tiếp “ nhận đầu tư, ưu điểm là không phải bỏ vốn, tránh được rủi ro trong kinh doanh, tiền thuế được thu ngay tại thời điểm và tạo việc làm cho người lao động. Bên ” cạnh đó, nước sở tại lại gặp khó khăn trong việc tiếp nhận kinh nghiệm quản lý và công nghệ, khó kiểm soát nhà đầu tư nước ngoài và không có lợi nhuận. Đối với các nhà đầu tư FDI, họ được độc lập trong hoạt động đầu tư kinh doanh, song vẫn còn những hạn chế do không am hiểu pháp luật, văn hóa, xã hội của nước sở tại.
Đối tác công – tư ( Public Private Partnership – PPP) Hình thức này là quá trình nhà nước và nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cở sở Hợp đồng dự án. Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất lượng dịch vụ. Các mô hình PPP gồm có: Mô hình nhượng quyền khai thác (franchise) là hình thức Nhà nước xây dựng và sở hữu cơ sở hạ tầng nhưng giao cho tư nhân vận hành và khai thác ( thông qua đấu giá) Mô hình thiết kế - xây dựng – tài trợ - vận hành DBFO (Design – Buil – Finance – Operate) là hình thức khu vực tư nhân sẽ đứng ra xây dựng, tài trợ và vận hành công trình nhưng nó thuộc sở hữu của nhà nước. 7 Mô hình xây dựng – vận hành – chuyển giao BOT ( Build – Operate – Transfer) là hình thức do công ty thực hiện dự án sẽ xây dựng và vận hành công trình trong một thời gian nhất định sau đó chuyển toàn bộ cho nhà nước.
Mô hình xây dựng – chuyển giao – vận hành BTO (Build – Transfer – Operate) là mô hình sau khi xây dựng xong sẽ chuyển giao cho nhà nước sở hữu nhưng công ty thực hiện dự án vẫn giữ quyền khai thác công trình. Mô hình xây dựng – sở hữu – vận hành BOO (Build – Own – Operate) là hình thức công ty thực hiện dự án sẽ đứng ra xây dựng công trình, sở hữu và vận hành công trình. Tác động của đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài đối với phát triển kinh tế 1. Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến nước tiếp nhận đầu tư Nguồn vốn Để đảm bảo quá trình phát triển kinh tế của mỗi quốc gia được phát triển bền vững thì cần phải đưa ra những chiến lược trong dài hạn.
Phục vụ cho phát “ triển kinh tế các quốc gia đặc biệt quan tâm đến nguồn vốn. Vì vậy , một trong những nguồn vốn mà các quốc gia quan tâm chính là FDI, nguồn vốn này là nguồn bổ sung to lớn cho sự phát triển, tạo khả năng khai thác hiệu quả các lĩnh vực kinh tế của nước nhận đầu tư, đặc biệt là với các nước chậm phát triển. Dòng vốn FDI hoạt động theo quy luật: Đầu tư trực tiếp nước ngoài, sản xuất hàng hóa ,tăng sản lượng, tăng thu nhập, tăng tiết kiệm, tăng đầu tư nền kinh tế phát triển.