Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và tổng quan các nghiên cứu trước đây - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Trình bày kết quả mô hình - Chương 5: Tổng kết, khuyến nghị -5- CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2.1 Cơ sở lý thuyết và các nhân tố ảnh hưởng đến FDI 2.1 Định nghĩa về FDI Theo quỹ tiền tệ quốc tế IMF: FDI là một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài theo đó một tổ chức trong nền kinh tế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một doanh nghiệp đặt tại một nền kinh tế khác. Mục đích của nhà đầu tư trực tiếp là muốn có nhiều ảnh hưởng trong việc quản lý doanh nghiệp đặt tại nền kinh tế đó. Theo OECD: Đầu tư trực tiếp nước ngoài là một loại đầu tư phản ánh mục tiêu của việc thiết lập mối quan hệ lâu dài của một doanh nghiệp thường trú tại một nền kinh tế (Đầu tư trực tiếp) trong một doanh nghiệp (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp) là cư dân trong một nền kinh tế khác hơn so với đầu tư trực tiếp. Sự quan tâm lâu dài ngụ ý sự tồn tại của mối quan hệ lâu dài giữa các nhà đầu tư trực tiếp và các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp và một mức độ đáng kể ảnh hưởng đến việc quản lý doanh nghiệp.
Quyền sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp của 10% quyền biểu quyết của một dân cư doanh nghiệp trong một nền kinh tế bởi một cư dân trong một nền kinh tế khác là bằng chứng của mối quan hệ như vậy Theo Luật đầu tư năm 2005 của Việt Nam, điều 3: Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư. Đầu tư nước ngoài là việc nhà đầu tư nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền và các tài sản hợp pháp khác để tiến hành các hoạt động đầu tư. Theo tổ chức thương mại WTO cho rằng: “Đầu tư trực tiếp nước ngoài xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (Nước chủ đầu tư) có được tài sản ở một nước khác (Nước thu hút đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó. Phương tiện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác.
Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư được gọi là công ty mẹ và các tài sản được gọi là công ty con hay các chi nhánh công ty”. -6- Từ các khái niệm nêu trên về đầu tư trực tiếp nước ngoài, chúng ta có thể hiểu rằng hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động tham gia đầu tư bằng tiền hoặc bằng tài sản của một cá nhân hay tổ chức nước ngoài vào một thực thể kinh tế trong nước, và có quyền tham gia điều hành, quản lý thực thể kinh tế này nhằm mục tiêu sinh lời.2 Các hình thức chủ yếu của FDI Hợp đồng hợp tác kinh doanh: Hợp đồng hợp tác kinh doanh giữa một hoặc nhiều nhà đầu tư nước ngoài với một hoặc nhiều nhà đầu tư trong nước (Gọi là bên hợp doanh) ký kết hợp đồng quy định về quyền lợi, trách nhiệm và phân chia kết quả kinh doanh cho mỗi bên hợp doanh mà không cần hình thành pháp nhân mới. Hợp đồng hợp tác kinh doanh là hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài dễ thực hiện và có ưu thế lớn trong việc phối hợp sản phẩm. Các sản phẩm có kỹ thuật cao đòi hỏi kết hợp thế mạnh của nhiều công ty trong các quốc gia khác nhau.
Đây cũng là xu hướng hợp tác sản xuất kinh doanh trong một tương lai gần xu hướng của sự phân công lao động chuyên môn hóa sản xuất trên phạm vi quốc tế. Doanh nghiệp liên doanh: Nhà đầu tư nước ngoài liên doanh với nhà đầu tư trong nước để thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần, công ty hợp danh, theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp thực hiện đầu tư theo hình thức liên doanh có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam, được thành lập và hoạt động kể từ ngày nhận được Giấy chứng nhận đầu tư. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài: Là doanh nghiệp thuộc sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài (Tổ chức hoặc cá nhân người nước ngoài) do các nhà đầu tư nước ngoài thành lập tại Việt Nam.
Tự quản lý và tự chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài có tư cách pháp nhân theo pháp luật Việt Nam được thành lập và hoạt động kể từ ngày cấp giấy chứng nhận đầu tư. Đầu tư theo hình thức góp vốn, mua cổ phần, sát nhập, mua lại doanh nghiệp: Nhà đầu tư có quyền góp vốn, mua cổ phần, sát nhập, mua lại doanh nghiệp -7- để tham gia quản lý hoạt động đầu tư theo quy định của Luật doanh nghiệp và pháp luật có liên quan. Doanh nghiệp sát nhập, mua lại kế thừa các quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sát nhập, mua lại trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
Nhà đầu tư nước ngoài khi góp vốn, mua cổ phần phải thực hiện đúng các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên về tỷ lệ góp vốn, hình thức đầu tư và lộ trình mở cửa thị trường, khi sát nhập, mua lại công ty chi nhánh tại Việt Nam phải tuân thủ các quy định của Luật Doanh nghiệp về điều kiện tập trung kinh tế của pháp luật về cạnh tranh và pháp luật về doanh nghiệp, đáp ứng điều kiện đầu tư trong trường hợp dự án đầu tư thuộc lĩnh vực đầu tư có điều kiện. Ngoài các hình thức cơ bản trên, trong các công trình xây dựng còn có các hình thức: - BOT (Hợp đồng xây dựng - kinh doanh - chuyển giao); - BTO (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh); - BT (Hợp đồng xây dựng - chuyển giao); - BCC (Hợp đồng phân chia sản phẩm).3 Đặc điểm FDI: Tìm kiếm lợi nhuận: FDI chủ yếu là đầu tư tư nhân với mục đích hàng đầu là tìm kiếm lợi nhuận. Các nước nhận đầu tư đặc biệt là các nước đang phát triển cần lưu ý điều này khi tiến hành thu hút FDI, phải xây dựng một hành lang pháp lý đủ mạnh và các chính sách thu hút FDI hợp lý để định hướng nguồn vốn FDI vào mục đích phát triển kinh tế trong nước tránh trường hợp FDI chỉ thuần phục vụ mục đích tìm kiếm lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài và gây ảnh hưởng tiêu cực đến kinh tế trong nước. Quyền quản lý điều hành các đối tượng đầu tư trong nước được quyết định bằng mức độ góp vốn của nhà đầu tư nước ngoài.
Nếu mức góp vốn đạt mức 100% thì đối tượng đầu tư hoàn toàn do chủ đầu tư nước ngoài điều hành và quản lý. Lợi nhuận từ hoạt động đầu tư phụ thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định. Tùy theo quy định của luật doanh nghiệp mỗi quốc gia, các nhà đầu tư nước ngoài phải đóng một số vốn pháp định tối -8- thiểu khi tham gia đầu tư trực tiếp. Quy định này thường không đồng nhất giữa các quốc gia khác nhau.
Tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định hoặc vốn điều lệ sẽ quyết định đến quyền và nghĩa vụ của các bên, lợi nhuận và rủi ro cũng được phân chia theo tỷ lệ góp vốn Thu nhập mà chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài nhận được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ không phải lợi tức. Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư được quyền chọn lĩnh vực đầu tư, hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ đầu tư từ đó đưa ra quyết định đầu tư có lợi nhất cho bản thân FDI thường kèm theo chuyển giao công nghệ cho các nước tiếp nhận đầu tư cũng như các kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các công ty đa quốc gia (MNCs).4 Một số lý thuyết giải thích động cơ đầu tư trực tiếp nước ngoài: 2.1 Lý thuyết về lợi nhuận cận biên của Mac.Dougall đã đề xuất một mô hình lý thuyết phát triển từ lý thuyết chuẩn của Hescher Ohlin – Samuaelson về sự vận động vốn. Ông cho rằng nguồn vốn đầu tư sẽ chuyển từ nước có lãi suất thấp sang nước có lãi suất cao cho đến khi đạt được trạng thái cân bằng (Lãi suất hai nước bằng nhau).
Sau đầu tư cả hai nước trên đều thu được lợi nhuận và làm cho sản lượng chung của thế giới tăng lên so với trước đầu tư. Trong giai đoạn đó lý thuyết này được các nhà kinh tế thừa nhận. Nhưng về sau tình hình trở nên thiếu ổn định, tỷ suất đầu tư của Mỹ giảm đi đến mức thấp hơn tỷ suất trong nước tuy nhiên FDI của Mỹ ra nước ngoài vẫn tăng liên tục. Mô hình trên không giải thích được vì sao một số nước đồng thời vừa có dòng vốn chảy vào vừa có dòng vốn chảy ra.
Do đó, lý thuyết này chỉ được xem là một bước khởi đầu hữu hiệu để nghiên cứu FDI.2 Lý thuyết Hymer (1976) Hymer (1976) giải thích các lý thuyết của FDI bằng cách so sánh sự khác biệt giữa đầu tư trực tiếp nước ngoài và đầu tư theo danh mục đầu tư. Dựa theo lý thuyết -9- đầu tư danh mục, nguồn vốn di chuyển từ nơi có lãi suất thấp đến nơi có lãi suất cao cho đến khi lãi suất cân bằng. Lý thuyết này giả định không có các rào cản đối với việc luân chuyển vốn như các rủi ro và không chắc chắn. Tuy nhiên Hymer lập luận rằng lý thuyết về đầu tư danh mục không giải thích được sự kiểm soát, trong đầu tư danh mục các nhà đầu tư ở nước ngoài không có quyền kiểm soát doanh nghiệp mà họ đầu tư vào.
Theo Hymer có hai lý do giải thích tại sao các nhà đầu tư tìm kiếm sự kiểm soát đó là các nhà đầu tư kiểm soát doanh nghiệp của họ ở nước ngoài để đảm bảo việc đầu tư của họ là an toàn và loại bỏ đối thủ cạnh tranh ở nước ngoài và nước khác. Hymer cho rằng các công ty đa quốc gia đang thúc đẩy đầu tư ra nước ngoài do lợi thế nhất định mà họ nhận được thông qua kiểm soát các doanh nghiệp. Hymer đã phân tích lợi thế của các nhà đầu tư nước ngoài so với các công ty nhận đầu tư.