Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về stress 1. Stress Trong tiếng Anh từ “stress” bắt nguồn từ chữ La tinh “stringi”, có nghĩa là “bị kéo căng ra”, được dùng trong vật lý học để chỉ một sức nén mà vật liệu phải chịu đựng. Đến thế kỷ thứ 17 từ ý nghĩa sức ép trên vật liệu stress được chuyển sang dùng cho người với ý nghĩa một sức ép hay một xâm phạm nào đó tác động vào con người gây ra một phản ứng căng thẳng.
Hiện nay “stress” là một thuật ngữ được dùng rộng rãi, tuy nhiên mỗi tác giả sử dụng với những sắc thái khác nhau. Theo Claude Bernard nhắc đến stress là nói về môi trường nội tại của cơ thể (nội mô-milieu interiur). Trong khái niệm ông miêu tả về nguyên lý của sự cân bằng động trong đó tính hằng định- một trạng thái bền vững của môi trường trong cơ thể là yếu tố của sự sống còn. Vì vậy những thay đổi hay những tác động ngoại cảnh làm đảo lộn sự cân bằng nội tại khiến cơ thể sinh ra những phản ứng.
Tiếp theo đó Walter Cannon đã đặt ra thuật ngữ “sự cân bằng nội môi”(homeostasis) để định nghĩa rõ nét hơn khái niệm cân bằng động của Bernard. Ông cũng là người đầu tiên phát hiện ra các yếu tố gây ra stress không chỉ là tác động của lý tính mà còn từ những tác động của cảm xúc. Qua các thí nghiệm của mình, ông đã chứng minh con người hay bất kỳ động vật nào khác đều có đáp ứng “chiến đấu hay tháo chạy” khi gặp nguy hiểm[54]. Nhà khoa học người Canada Hans Selye đã mở rộng thêm những quan sát của Cannon.
Ông theo dõi khả năng kiểm soát quá trình tiết hormôn (như cortisol) một loại hormon gây stress của tuyến yên thông qua vùng vỏ của tuyến thượng thận[54]. Ông đưa ra định nghĩa: “Stress là nhịp sống luôn có mặt ở bất kỳ thời điểm nào của sự tồn tại của chúng ta. Một tác động bất kỳ tới một cơ quan nào đó đều gây stress. Stress không phải lúc nào cũng là kết quả của sự tổn thương, ngượclại có hai loại 5 stress khác nhau, đối lập nhau: stress bình thường khỏe mạnh là Unstress, stress độc hại hay tiêu cực là Dystress”[40].
Stress (tâm chấn - sang chấn tâm lý) là những phản ứng sinh học không đặc thù của cơ thế (nói một cách khác đó là những biến đổi lý, hoá, sinh của con người) đối với những thay đổi liên tục và không ngừng của môi trường sống, trong đó tâm lý có vai trò cực kỳ quan trọng.Nói một cách dễ hiểu hơn: có thể xem stress tâm lý là tất cả những sự việc, hoàn cảnh, trong những điều kiện sinh hoạt xã hội, trong mối liên quan phức tạp giữa người và người, tác động vào tâm thần gây ra các cảm xúc mạnh, phần lớn là tiêu cực: sợ hãi, lo âu, buồn rầu, tức giận.Stress ảnh hưởng tới con người cả về thực thể lẫn tâm thần[3]. Khái niệm stress vừa để chỉ tác nhân công kích, vừa để chỉ phản ứng của cơ thể trước các tác nhân đó. Stress được xem như sự đáp ứng chủ chủ thể trước một nhu cầu hoặc trước những tác động của môi trường xung quanh. Trong điều kiện bình thường, stress là một đáp ứng thích nghi về mặt tâm lý, sinh lý và tập tính.
Stress đặt chủ thể vào quá trình dàn xếp thích ứng, tạo ra một cân bằng mới cho cơ thể sau khi chịu những tác động của môi trường. Nói cách khác, phản ứng stress bình thường đã góp phần làm cho cơ thể thích nghi. Nếu đáp ứng của cá nhân với các yếu tố stress không đầy đủ, không thích hợp và cơ thể không tạo ra một cân bằng mới, thì chức năng của cơ thể ít nhiều sẽ bị rối loạn, những dấu hiệu bệnh lý cơ thể, tâm lý, tập tính sẽ xuất hiện và sẽ tạo ra những stress bệnh lý cấp tính hoặc kéo dài[14]. Như vậy stress là phản ứng của cơ thể trước bất cứ một yêu cầu áp lực hay một yếu tố tác động nào đe dọa đến sự tồn tại lành mạnh của con người cả về thể chất lẫn tinh thần.
Các yếu tố chính gây stress Đó là các tâm chấn (sang chấn tâm thần) và hoàn cảnh xung đột. Xung đột giữa nhân cách và môi trường xung quanh. Mâu thuẫn giữa quyền lợi cá nhân và yêu cầu xã hội, đặc biệt xung quanh vấn đề kinh tế, vỡ nợ, chơi hụi, mất tài sản, khó khăn kinh tế. 6 Mâu thuẫn kéo dài trong công tác, ở cơ quan: Mất việc làm, bị đuổi việc, thải hồi.
Về hưu (bị hẫng hụt về nhiều mặt: quyền lực, chế độ đãi ngộ, và tâm lý. Thay đổi điều kiện công tác, chuyển công tác đi nơi khác mà mình không muốn. Mâu thuẫn với cấp trên, với đồng nghiệp. Bị cấp trên khiển trách, trù dập, không tin tưởng.
Mâu thuẫn trong đời sống cá nhân gia đình: Bệnh tật, tang tóc của người thân.Các con bỏ nhà ra đi, lang thang, hư hỏng, tù tội.Sự có thai ngoài ý muốn, đặc biệt là thai hoang.Bố mẹ bất hoà, ly hôn.Kết hôn không toại nguyện, trục trặc trong hôn nhân, vợ chồng không hoà hợp. Thất vọng trong tình yêu.Con cái bị tàn tật.Thay đổi hoàn cảnh sống.Tâm chấn có thể ít, có thể nhiều, có thể cấp tính cũng có thể trường diễn[3]. Yếu tố nguy cơ: bao hàm cả xác suất của một tác dụng có hại đến sức khỏe con người, môi trường, tài sản và cả mức độ của những nguy cơ có liên quan. Vậy yếu tố nguy cơ là bất kỳ tác nhân nào ảnh hưởng đến khả năng mắc một bệnh nào đó.
Tức là có sự xuất hiện của yếu tố nguy cơ đồng nghĩa với tăng khả năng mắc bệnh.Tuy rằng yếu tố nguy cơ không trực tiếp gây bệnh, nhưng nó đóng vai trò tác nhân khiến cho chúng ta dễ mắc bệnh hơn và góp phần làm nặng thêm tình trạng bệnh. Những người có càng nhiều yếu tố nguy cơ với một bệnh nào đó thì tỉ lệ mắc bệnh sẽ càng tăng. Như vậy việc lượng giá yếu tố nguy cơ sẽ giúp chúng ta có thể phòng bệnh và tiên lượng bệnh được tốt hơn[17]. Các dấu hiệu và triệu chứng stress Stress ảnh hưởng đến con người cả về thực thể lẫn tâm thần.
Những dấu hiệu về mặt tâm lý: Giận dữ, nóng nảy thường xuyên. Đôi khi lo âu vô cớ, thất vọng chán chường. Hay cáu giận, khó tính. Lo lắng, chán nản , buồn rầu.
Gây gổ, gây sự, hung hăng. Sống khép mình, không thích tiếp xúc với mọi người xung quanh. Sử dụng các chất kích thích. Trí nhớ giảm sút rõ rệt, tư duy kém sắc bén, khối lượng trí nhớ thu hẹp và chất lượng hoạt động giảm sút rõ rệt[2],[3],[12],[28].
7 Những dấu hiệu về thực thể: Hệ thần kinh: mất ngủ, đau đầu, hoa mắt chóng mặt.Hệ tuần hoàn: tăng huyết áp,nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não, loạn nhịp tim, hồi hộp đánh trống ngực. Hệ tiêu hóa: viêm loét dạ dày tá tràng, xuất huyết tiêu hóa, tiêu chảy, khô miệng, chán ăn, ăn không tiêu. Hệ tiết niệu: đái buốt, đái dắt. Hệ sinh sản: giảm ham muốn, di tinh, mộng tinh, lãnh cảm, rối loạn kinh nguyệt.
Hệ nội tiết: rối loạn nội tiết tố. Hệ cơ xương khớp: co cứng cơ, đau lưng, đau xương khớp, kiến bò ở tay, nóng mắt, chuột rút, run rẩy. Toàn thân: suy sụp, mệt mỏi, dễ lãnh cảm. Nếu nặng có thể có các rối loạn tâm thần[2],[3], [12], [28].
Hậu quả của stress: stress có thể gây ra hậu quả tích cực hoặc hậu quả tiêu cực cụ thể như sau: - Hậu quả tiêu cực: khi stress trở thành bệnh lý nghĩa là phản ứng thích nghi bình thường của cơ thể bị thất bại, cơ thể không thể vượt qua được tác nhân gây stress và chuyển sang giai đạn kiệt sức do tác nhân gây stress quá mạnh hoặc kéo dài, vượt qua sự kháng cự của cơ thể. Cơ thể bị rơi vào đáp ứng hỗn loạn và bị kiệt sức dẫn đến bệnh tật ở các cơ quan thậm chí là tử vong [2].Mức độ nhẹ có thể gây mệt mỏi, căng thẳng, lo âu, giảm khả năng tập trung chú ý, rối loạn trí nhớ, rối loạn giấc ngủ; mức độ trung bình là có thể gây rối loạn tâm căn như tâm căn lo âu, tâm căn suy nhược; mức độ nặng có thể gây rối loạn tâm thể (bệnh cơ thể tâm sinh) như cao huyết áp, loét dạ dày, gây rối loạn tâm thần như hội chứng stress sau sang chấn [28]. - Hậu quả tích cực: khi rơi vào trạng thái stress nếu chủ thể có phản ứng thích nghi bình thường với những tác nhân của môi trường bên trong hoặc bên ngoài cơ thể. Lúc này stress sẽ huy động khả năng của cơ thể để thích nghi với sự thay đổi của môi trường.
Stress khi đó sẽ là yếu tố tạo động cơ thúc đẩy cá nhân phát triển, phát huy năng lực tiềm tàng của bản thân[2], [28]. Stress nghề nghiệp và nguyên nhân gây stress nghề nghiệp Khái niệm stress nghề nghiệp Stress nghề nghiệp được định nghĩa như các phản ứng có hại về tâm sinh lý xảy ra khi yêu cầu công việc không phù hợp với năng lực, nguồn lực hoặc nhu cầu 8 của người lao động. Stress nghề nghiệp (SNN) có thể dẫn đến tình trạng thay đổi sức khỏe, thậm chí gây nên thương tích[2]. Nguyên nhân gây ra stress nghề nghiệp Hầu hết mọi người đều đồng tình rằng stress nghề nghiệp là kết quả của sự tương tác giữa người lao động và điều kiện làm việc hay điều kiện lao động.
Vì vậy, các điều kiện làm việc nhất định đều có thể gây căng thẳng cho hầu hết mọi người và là nguồn chủ yếu dẫn đến stress nghề nghiệp [2]. Điều kiện lao động là tập hợp các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội và văn hóa xung quanh con người nơi làm việc. Các yếu tố này được hình thành không phải bởi điều kiện địa lý tự nhiên như nhiệt độ, độ ẩm, tốc độ gió, thời gian ban ngày hay ban đêm…, mà còn phụ thuộc rất nhiều vào việc tổ chức quá trình lao động cũng như đặc điểm của bản thân quá trình lao động. Nói một cách khác, điều kiện lao động của người điều dưỡng được hiểu là tập hợp của rất nhiều yếu tố trong lao động nơi họ làm việc như: - Yếu tố môi trường: đặc điểm môi trường làm việc của điều dưỡng viên phần lớn phải làm việc trong môi trường có nhiều yếu tố độc hại: yếu tố vật lý (bức xạ ion hóa…), các yếu tố hóa học (khí độc, hơi cồn, dung dịch sát khuẩn…), vi sinh vật (nấm, vi khuẩn, virus…).
Tính chất lao động ở điều dưỡng cũng rất đặc biệt: phải tiếp xúc với bệnh lây nhiễm nguy hiểm (lao, SARS, HIV/AIDS…).