ĐẶT VẤN ĐỀ Lúa gạo là một trong những cây lương thực chính ,cung cấp lương thực cho hơn 65% dân số trên thế giới, sản lượng gạo tiêu thụ cao nhất. Hiện nay hơn 100 nước trên thế giới sản xuất lúa. Châu Á là vùng sản xuất lúa gạo chủ yếu chiếm 90% về sản lượng cũng như về diện tích. Là nơi có nền nông nghiệp cổ xưa nhất gắn với canh tác lúa nước.
Cây lúa có khả năng thích ứng rộng với 11 loại đất canh tác. Việt Nam cũng là nước có nghề lúa nước từ cổ xưa ,với dân số hơn 80 triệu dân và 100% dân số sử dụng lúa gạo là lương thực chính, kim ngạch xuất khẩu hàng năm đạt hơn 6 triệu tấn. Điều đó cho thấy nghề sản xuất lúa nước đóng vai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân. Sản xuất kinh doanh lúa gạo đóng vai trò quan trọng trong nền phát triển kinh tế nông nghiệp và nông thôn Việt Nam.
Sản xuất lúa gạo là nguồn thu nhập và cung cấp lương thực chính của các hộ nông dân nên chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông dân và nông thôn gắn liền với phát triển ngành hàng lúa gạo. Trong gần ba thập kỷ qua nhờ đổi mới cơ chế quản lý, Việt Nam đã đạt được những thành tựu lớn trong sản xuất lúa gạo, không những góp phần đảm bảo An ninh lương thực trong nước mà hàng năm còn tham gia xuất khẩu với kim ngạch đáng kể và đóng góp không nhỏ cho ngân sách quốc gia. Sản xuất cây lương thực hiện nay nói chung và sản xuất lúa, gạo nói riêng tại Việt Nam hiện đang có xu thế ngày càng dùng nhiều phân hóa học, thuốc trừ sâu bệnh hóa học, thuốc trừ cỏ, thậm chí nhiều loại thuốc hóa học không rõ nguồn gốc nhưng người dân vẫn sử dụng, dùng thuốc và phân hóa học quá liều lượng khuyến cáo và chưa đúng thời điểm. Do vậy, sản xuất này cho năng suất cao nhưng đang làm suy thoái môi trường đất, nước, chất lượng sản phẩm bị ảnh hưởng, mất an toàn trong tiêu thụ sản phẩm.
1 Sản xuất và tiêu dùng các sản phẩm nông nghiệp có nguồn gốc hữu cơ trở thành xu hướng toàn cầu, nhằm mang đến một kết quả tích cực trong việc sử dụng bền vững đất nông nghiệp, bảo vệ sức khoẻ người sản xuất và người tiêu dùng. Đến năm 2019, tổng diện tích nông nghiệp hữu cơ trên thế giới chiếm gần 70 triệu ha và tiềm năng thị trường trị giá khoảng 97 tỷ USD. Mặc dù là cây lương thực hàng đầu chiếm 35,9% diện tích đất sản xuất nông nghiệp và giúp Việt Nam trở thành một trong những những cường quốc xuất khẩu gạo của thế giới nhưng phương thức canh tác lạm dụng phân bón hoá học và thuốc bảo vệ thực vật không chỉ làm giảm giá trị xuất khẩu của lúa gạo mà còn làm tổn hại đến sức khoẻ người sản xuất, người tiêu dùng và đe doạ môi trường sinh thái nông nghiệp. Điều này dẫn đến nông nghiệp hữu cơ đã được chú trọng nhiều hơn ở Việt Nam trong thời gian gần đây, điển hình là việc thành lập Hiệp hội nông nghiệp hữu cơ Việt Nam vào năm 2012, cùng với đó là các tiêu chuẩn liên quan đến nông nghiệp hữu cơ được Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành vào các năm 2015 và 2017.
Trồng lúa tại hữu cơ tại huyện Phù Yên bắt đầu triển khai từ năm 2019. Trong những năm gần đây đã bắt đầu phát triển các dòng lúa chất lượng cao như Đài Thơm 8, J02, Séng Cù sản xuất theo hướng hữu cơ ngày càng khẳng định thêm tiềm năng mang lại hiệu quả kinh tế cao của gạo cho công cuộc tái thiết ngành nông nghiệp cũng như công cuộc xây dựng nông thôn mới của huyện Phù Yên nói riêng và tỉnh Sơn La nói chung. Tuy nhiên, sản xuất lúa theo hướng hữu cơ ở Phù Yên hiện vẫn còn gặp nhiều khó khăn. Do thời tiết diễn biến phức tạp, biến đổi khí hậu dẫn đến khí hậu khô hạn kéo dài ảnh hưởng đến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây lúa.
Sâu bệnh hại xuất hiện nhiều công tác tuyên truyền phun thuốc ở số ít hộ chưa được kịp thời và đầy đủ như hướng dẫn. Về khâu sản xuất vẫn còn mang tính tự phát, sản xuất nhỏ lẻ, thiếu sự liên kết giữa các doanh nghiệp, HTX với người sản xuất, lực lượng lao động đi làm trong các công ty, doanh nghiệp ở 2 ngoài huyện lớn (hơn 14 nghìn lao động) và do diễn biến tình hình dịch bệnh Covid-19 vì vậy việc tập trung nhân lực cho sản xuất lúa chưa nhiều, chưa thường xuyên. Một số hộ sử dụng phân bón hữu cơ chưa đủ định mức theo khuyến cáo, mặc dù có hỗ trợ ngân sách nhà nước từ nguồn vốn chương trình NTM, tuy nhiên một số hộ đối ứng mua phân bón chưa đầy đủ. Một số hộ tổ chức thăm đồng chưa thường xuyên nên khi phát hiện sâu bệnh phòng trừ chưa kịp thời.
Về khâu tiêu thụ do diện tích manh mún, nhỏ lẻ số diện tích sản xuất tuy lớn nhưng số hộ tham gia nhiều 150 ha/1.264 hộ, do vậy sản xuất lúa chỉ mang tính chất để gia đình sử dụng. Định hướng sản xuất hàng hoá gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện; số hộ có nhu cầu bán thóc tươi ít khoảng 5% tổng số hộ, chưa đủ sản lượng nên Công ty Cổ phần chế biến nông sản Bảo Minh không tổ chức thu mua được theo hợp đồng đã ký kết trong vòng 10 năm. Dẫn đến sản phẩm sản xuất chưa thực sự đảm bảo chất lượng, thiếu sự đồng đều, năng suất chưa ổn định và hệ quả là hiệu quả kinh tế mang lại chưa cao, chưa khai thác được tiềm năng mà loại cây lương thực này có thể mang lại cho người dân. Được sự quan tâm của UBND huyện Phù Yên, UBND xã Quang Huy.
Sự phối hợp chặt chẽ giữa Trung tâm dịch vụ nông nghiệp với các cấp chính quyền xã Quang Huy và HTX Nông nghiệp Quang Huy trong công tác chỉ đạo sản xuất đã tiếp tục thúc đẩy người dân chú trọng đầu tư sản xuất lúa hữu cơ, chỉ đạo bà con nhân dân tiếp tục thực hiện dự án. Để nâng cao hiệu quả sản xuất lúa, góp phần thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, nâng cao lợi nhuận kinh tế của nông hộ, cần làm rõ được thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa của các hộ gia đình tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Đặc điểm nhân khẩu xã hội của hộ gia đình trồng lúa của hộ bao gồm những gì? Thực trạng trồng lúa và tiêu thụ theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình đang diễn ra như thế nào? Các hộ gia đình gặp những thuận lợi và khó khăn gì trong quá trình sản xuất lúa? Để làm rõ những câu hỏi trên, tôi tiến hành 3 nghiên cứu đề tài “Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La” và triển khai nghiên cứu tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mục tiêu chung Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình trên địa bàn xã Quang Huy, Huyện Phù Yên, Tỉnh Sơn La. Mục tiêu cụ thể - Tìm hiểu về đặc điểm nhân khẩu của các hộ gia đình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ. - Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình. - Tìm hiểu thuận lợi và khó khăn trong quá trình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ.
ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU 1. Đối tượng nghiên cứu - Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình tại xã Quang Huy, Huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Khách thể nghiên cứu - Các hộ gia đình sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Phạm vi nghiên cứu - Phạm vi nội dung: Đề tài tập trung phân tích thực trạng hoạt động trồng lúa của các hộ gia đình theo hướng hữu cơ tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Các đặc điểm nhân khẩu xã hội, và những thuận lợi khó khăn trong sản xuất lúa của các hộ gia đình. - Phạm vi không gian: Đề tài thực hiện tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. 4 - Phạm vi thời gian: + Các hộ gia đình lựa chọn nghiên cứu sản xuất lúa theo hướng hữu cơ từ năm 2019. UBND huyện ban hành quyết định số 2141/QĐ-UBND ngày 23/9/2019 phê duyệt thuyết minh và đơn vị chủ trì thực hiện “Dự án hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm gạo theo hướng hữu cơ liên kết theo chuỗi giá trị, gắn với tiêu thụ sản phẩm".
+ Thông tin thứ cấp được thu thập từ năm 2000 trở lại đây; + Thông tin sơ cấp được thu thập từ tháng 1/2022 – tháng 3/2022. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. Các lý thuyết nền cho đề tài nghiên cứu 2. Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber Lý luận về hành động xã hội của Max Weber là một trong những lý luận quan trọng nhất trong xã hội học hiện đại của Max Weber.
Theo Max Weber: Xã hội học chính là khoa học về hành động xã hội. Mọi hiện tượng và sự kiện xã hội dều có thể giải thích bằng lý luận hành động xã hội, vì suy cho cùng xã hội thống nhất bởi các quan hệ xã hội mà quan hệ xã hội lại do con người tạo ra. Tóm lại, con người tạo ra xã hội và xã hội không phải tổng cộng số học của những cá thể mà là tổng hòa của các hành động xã hội. Theo Max Weber hành động xã hội là hành động được chủ thế gắn cho nó một ý nghĩa chủ quan nào đó, là hành động khi nó tương quan và định hướng vào hành động của người khác theo ý đã được nhận thức bởi chủ thể hành động, Max Weber đã chia hành động xã hội ra làm 4 loại: Hành động hợp lý về mục đích, hành động hợp lý về mặt giá trị, hành động truyền thống, hành động tình cảm.
Trong đề tài, chúng ta chủ yếu vận dụng hành động hợp lý về mục đích, hành động hợp lý về mặt giá trị và hành động truyền thống. Hành động hợp lý về mặt mục đích cho ta thấy nỗ lực của cá nhân trên cơ sở phân tích, định hướng vào điều kiện, hoàn cảnh để xác định sự hợp lý về mục đích hành động của mình.