Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sản xuất lúa gạo giữ vai trò trụ cột trong việc bảo đảm an ninh lương thực và phát triển kinh tế nông thôn tại Việt Nam. Tuy nhiên, tập quán canh tác lạm dụng phân bón vô cơ, thuốc trừ sâu hóa học và chất bảo vệ thực vật quá liều lượng trong thời gian dài đã gây suy thoái tài nguyên đất, ô nhiễm nguồn nước, giảm chất lượng hạt gạo và đe dọa trực tiếp đến sức khỏe người tiêu dùng cũng như hệ sinh thái nông nghiệp. Trước xu thế phát triển nông nghiệp hữu cơ toàn cầu, việc chuyển đổi sang phương thức sản xuất lúa theo hướng hữu cơ là yêu cầu cấp thiết nhằm hướng đến sự phát triển bền vững.

Tại huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La, mô hình sản xuất lúa theo hướng hữu cơ được triển khai từ năm 2019 thông qua Quyết định số 2141/QĐ-UBND ngày 23/9/2019 của Ủy ban nhân dân huyện Phù Yên về việc phê duyệt thuyết minh dự án hỗ trợ phát triển sản xuất sản phẩm gạo hữu cơ liên kết theo chuỗi giá trị. Các giống lúa chất lượng cao như Đài Thơm 8, J02 và Séng Cù đã được đưa vào gieo trồng tại xã Quang Huy. Dù đạt được một số kết quả ban đầu, thực tiễn canh tác tại địa bàn đối mặt với nhiều rào cản: điều kiện thời tiết khô hạn kéo dài, sâu bệnh hại diễn biến phức tạp, sản xuất còn mang tính tự phát và manh mún (toàn dự án có quy mô 150 ha nhưng phân tán ở 1.264 hộ gia đình). Bên cạnh đó, tình trạng thiếu hụt lao động nông nghiệp diễn ra nghiêm trọng do hơn 14.000 lao động của huyện chuyển dịch sang làm việc tại các khu công nghiệp bên ngoài, cùng với sự đứt gãy chuỗi liên kết tiêu thụ khi tỷ lệ hộ có nhu cầu bán thóc tươi chỉ đạt khoảng 5%, không đủ sản lượng để Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Bảo Minh thu mua theo thỏa thuận liên kết 10 năm.

Để làm rõ thực trạng này, tác giả Đinh Thị Nhật Minh thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Xã hội học nhằm phân tích toàn diện hoạt động sản xuất, tiêu thụ và các yếu tố nhân khẩu tác động đến nông hộ tại địa phương.

Mục tiêu nghiên cứu của đề tài được xác định cụ thể:

  1. Mục tiêu chung: Tìm hiểu thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình trên địa bàn xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
  2. Mục tiêu cụ thể:
    • Tìm hiểu đặc điểm nhân khẩu - xã hội của các hộ gia đình tham gia sản xuất lúa theo hướng hữu cơ.
    • Làm rõ thực trạng các khâu trong quy trình sản xuất và phương thức tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của nông hộ.
    • Nhận diện những thuận lợi và khó khăn của các hộ gia đình trong tiến trình canh tác và tiêu thụ sản phẩm.

Đối tượng, khách thể và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình.
  • Khách thể nghiên cứu: Nông hộ sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ tại xã Quang Huy.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La (tập trung khảo sát tại 3 bản: Chiềng Hạ, Chiềng Thượng và Bản Búc).
  • Phạm vi thời gian: Đề tài phân tích tiến trình thực hiện từ khi triển khai mô hình năm 2019; số liệu thứ cấp được thu thập từ năm 2000 đến thời điểm nghiên cứu; số liệu sơ cấp được tiến hành điều tra thực địa từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2022.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hai khung lý thuyết xã hội học chuyên ngành làm nền tảng phân tích hành vi của nông hộ:

  • Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber: Tác giả sử dụng ba loại hình hành động chính gồm hành động hợp lý về mục đích, hành động hợp lý về giá trị và hành động truyền thống. Khung lý thuyết này giải thích cách người nông dân cân nhắc các điều kiện tự nhiên, chi phí đầu vào, thị trường đầu ra để lựa chọn phương thức canh tác hữu cơ nhằm tối ưu hóa năng suất và thu nhập, đồng thời chỉ ra sự đan xen giữa kinh nghiệm tích lũy truyền thống và việc tiếp thu tiến bộ kỹ thuật.
  • Lý thuyết trao đổi xã hội của George Homans: Dựa trên định đề phần thưởng và chi phí (Hành vi = Phần thưởng - Chi phí), lý thuyết được áp dụng để phân tích động lực chuyển đổi của người dân. Nông hộ duy trì canh tác lúa hữu cơ khi nhận thấy lợi ích tổng thể (bảo vệ sức khỏe, môi trường trong lành, giảm chi phí hóa chất độc hại, chất lượng gạo thơm ngon) vượt trội hơn so với các tổn phí và rủi ro phát sinh.

Hệ thống khái niệm công cụ được xác lập dựa trên các căn cứ pháp lý và học thuật: khái niệm sản xuất và tiêu thụ (theo Dương Văn Hiểu, 2010), khái niệm lúa hữu cơ, định nghĩa về hộ (theo MC Gê, 1989), định nghĩa gia đình (Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Điều 3) và định nghĩa hộ gia đình (Bộ luật Dân sự năm 2005, Điều 106).

Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm:

  • Chọn địa bàn nghiên cứu: Xã Quang Huy có cánh đồng lúa 1.300 ha liền vùng, địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho cơ giới hóa, sở hữu hệ thống cấp nước sạch từ hồ Suối Chiếu (xã Mường Thải) chảy về Suối Tấc và có truyền thống canh tác lúa nước lâu đời (đã tiếp cận kỹ thuật cấy lúa SRI, hiệu ứng hàng biên).
  • Phương pháp thu thập dữ liệu thứ cấp: Thu thập văn bản chỉ đạo, báo cáo kinh tế - xã hội, số liệu diện tích và sản lượng từ Ủy ban nhân dân xã Quang Huy và Ủy ban nhân dân huyện Phù Yên.
  • Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp:
    • Điều tra bảng hỏi: Chọn mẫu ngẫu nhiên gồm 60 hộ gia đình tại 3 bản (Chiềng Hạ, Chiềng Thượng, Bản Búc), chia đều thành 30 hộ có sản xuất lúa theo hướng hữu cơ và 30 hộ sản xuất lúa thông thường (vô cơ) để tạo đối chứng so sánh về chi phí, kỹ thuật và hiệu quả.
    • Phỏng vấn sâu (PVS): Thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu chất lượng, bao gồm: 01 Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Quang Huy (tìm hiểu công tác chỉ đạo, chính sách, tập huấn), 01 Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Quang Huy (tìm hiểu quy trình cung ứng giống, phân bón hữu cơ, thuốc bảo vệ thực vật) và 08 chủ hộ nông dân (04 hộ trồng lúa hữu cơ, 04 hộ trồng lúa thông thường).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu: Dữ liệu định lượng từ bảng hỏi được mã hóa và xử lý thống kê mô tả bằng phần mềm SPSS; kết hợp phương pháp phân tích định tính đối với dữ liệu phỏng vấn sâu để làm rõ các khía cạnh tâm lý, động cơ và rào cản xã hội.

Nội dung chính theo từng chương

Phần 1: Giới thiệu

Chương mở đầu tập trung trình bày bối cảnh chung của ngành hàng lúa gạo Việt Nam và thế giới, tính cấp thiết của việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng sang hướng hữu cơ, thực trạng triển khai đề án sản xuất lúa hữu cơ tại huyện Phù Yên. Chương này xác định rõ mục tiêu chung, 3 mục tiêu cụ thể, đối tượng, khách thể, giới hạn phạm vi nghiên cứu không gian, thời gian và ý nghĩa thực tiễn của đề tài.

Phần 2: Tổng quan tài liệu

Tác giả hệ thống hóa các công trình nghiên cứu liên quan trong nước và quốc tế theo 3 nhóm chủ đề: thực trạng sản xuất lúa của nông hộ tại Việt Nam, các mô hình sản xuất lúa hữu cơ (như mô hình lúa - rươi, mô hình cánh đồng lớn), và các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng, khó khăn, rào cản trong chuỗi giá trị lúa gạo. Phần này phân tích sâu hai khung lý thuyết nền tảng (Hành động xã hội của Max Weber và Trao đổi xã hội của George Homans), đồng thời làm rõ các khái niệm công cụ làm chuẩn mực đánh giá cho nghiên cứu.

Phần 3: Phương pháp nghiên cứu

Nội dung chương mô tả điều kiện tự nhiên, tài nguyên nước và lợi thế canh tác của xã Quang Huy; chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng; quy trình chọn mẫu điều tra 60 bảng hỏi và thực hiện 10 cuộc phỏng vấn sâu; cấu trúc khung phân tích đi từ đặc điểm nhân khẩu - xã hội đến quy trình kỹ thuật sản xuất, kênh tiêu thụ và các yếu tố thuận lợi, khó khăn.

Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Nội dung trọng tâm của khóa luận công bố và phân tích toàn diện dữ liệu khảo sát thực tế qua các khía cạnh:

1. Đặc điểm nhân khẩu - xã hội của hộ gia đình: Quy mô nhân khẩu trung bình đạt từ 5 người/hộ, trong đó số lao động bình quân khoảng 3 người và số người phụ thuộc dao động từ 2 đến 3 người (chủ yếu là trẻ em đi học và người cao tuổi hoặc ốm đau).

Tiêu chí nhân khẩu Nhóm hộ sản xuất hữu cơ (N=30) Nhóm hộ không sản xuất hữu cơ (N=30)
Độ tuổi người sản xuất chính
- Từ 25 - 35 tuổi 13,3% 13,3%
- Từ 36 - 45 tuổi 20,0% 23,3%
- Từ 46 - 55 tuổi 56,6% 53,3%
- Trên 55 tuổi 10,0% 10,0%
Trình độ học vấn
- Tiểu học 30,0% 26,6%
- Trung học cơ sở (THCS) 36,6% 43,3%
- Trung học phổ thông (THPT) 23,3% 20,0%
- Cao đẳng / Đại học 10,0% 10,0%
Cơ cấu nghề nghiệp chính
- Chuyên làm nông / trồng lúa 56,6% 63,3%
- Cán bộ, công chức, viên chức 20,0% 10,0%
- Lao động tự do, buôn bán nhỏ 23,3% 26,7%

Về phân công lao động theo giới, biểu đồ nghiên cứu chỉ ra tỷ lệ phụ nữ trực tiếp đảm nhiệm vai trò sản xuất lúa chính chiếm tới 63,3%, trong khi nam giới chỉ tham gia vào các khâu nặng nhọc như cày bừa, làm đất hoặc vận chuyển nông sản sau thu hoạch.

2. Thực trạng quy mô đất đai và kỹ thuật canh tác: Quy mô diện tích canh tác của các hộ gia đình tại địa bàn nhìn chung nhỏ lẻ, phân tán.

Phân khoảng diện tích canh tác Nhóm hộ sản xuất hữu cơ (N=30) Nhóm hộ không sản xuất hữu cơ (N=30) Tổng số mẫu (N=60) Tỷ lệ (%)
Từ 500 m² đến dưới 1.000 m² 3 hộ 3 hộ 6 hộ 10,0%
Từ 1.001 m² đến dưới 1.500 m² 7 hộ 7 hộ 14 hộ 23,3%
Từ 1.501 m² đến dưới 2.000 m² 10 hộ 10 hộ 20 hộ 33,3%
Từ 2.001 m² đến dưới 3.000 m² 4 hộ 4 hộ 8 hộ 13,3%
Từ 3.001 m² đến dưới 5.000 m² 6 hộ 6 hộ 12 hộ 20,0%

Về quy trình kỹ thuật, các hộ sản xuất hữu cơ sử dụng các giống thuần chất lượng cao (Đài Thơm 8, J02, Séng Cù) do Hợp tác xã Nông nghiệp Quang Huy cung ứng. Khâu bón phân sử dụng phân bón hữu cơ vi sinh có hỗ trợ từ nguồn vốn nông thôn mới kết hợp vốn đối ứng của hộ. Tuy nhiên, một số hộ vẫn bón chưa đủ định mức khuyến cáo do khó khăn về tài chính. Về quản lý sâu bệnh, các hộ hạn chế tối đa thuốc bảo vệ thực vật hóa học, tuân thủ thời gian cách ly nghiêm ngặt hơn so với phương thức canh tác truyền thống. Hoạt động cơ giới hóa chủ yếu áp dụng ở khâu làm đất và gặt đập liên hợp thông qua hình thức thuê dịch vụ máy móc.

3. Thực trạng tiêu thụ và liên kết chuỗi: Mục đích sản xuất lúa của phần lớn nông hộ tại xã Quang Huy là phục vụ an ninh lương thực nội bộ gia đình, phần phụ phẩm hoặc lúa phẩm cấp thấp dùng để chăn nuôi gia cầm và nấu rượu. Chỉ những hộ có diện tích từ 1.500 m² đến trên 3.000 m² mới có sản phẩm dư thừa để bán lẻ cho người dân địa phương hoặc thương lái nhỏ. Đề án liên kết chuỗi giá trị với Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Bảo Minh gặp trở ngại lớn do tỷ lệ hộ bán thóc tươi tập trung chỉ đạt khoảng 5%, không đủ khối lượng vận chuyển công nghiệp, dẫn đến tình trạng nông dân chủ yếu tự tích trữ lúa khô tại nhà.


Kết quả và đóng góp

Kết quả nghiên cứu chính

  • Đặc điểm lực lượng lao động: Khóa luận phản ánh rõ nét hiện tượng già hóa và nữ hóa lao động nông nghiệp tại xã Quang Huy. Lao động chính làm lúa tập trung ở độ tuổi 46 - 55 (chiếm 56,6%), nữ giới chiếm 63,3%, trình độ học vấn chủ yếu ở mức THCS (36,6%) và tiểu học (30,0%). Sự chuyển dịch hơn 14.000 lao động trẻ của huyện Phù Yên sang các khu công nghiệp tạo ra tình trạng thiếu hụt nhân lực thời vụ nghiêm trọng trong các đợt cấy và thu hoạch.
  • Thực trạng đất đai và canh tác: Phần lớn các hộ sở hữu diện tích canh tác từ 1.000 m² đến dưới 2.000 m² (chiếm 56,6% mẫu khảo sát). Đất đai manh mún cản trở việc áp dụng quy trình đồng bộ quy mô lớn. Dù 100% người dân tham gia tập huấn đều áp dụng kỹ thuật vào sản xuất, việc đối ứng vốn mua phân hữu cơ vi sinh vẫn còn thiếu hụt ở một số hộ.
  • Thực trạng chuỗi liên kết: Sản xuất lúa hữu cơ chưa chuyển hóa thành công sang mô hình sản xuất hàng hóa tập trung do mục tiêu tự cấp tự túc vẫn chiếm ưu thế, dẫn đến việc không thể duy trì hợp đồng bao tiêu sản phẩm dài hạn với doanh nghiệp chế biến.

Giải pháp và kiến nghị của tác giả

  • Về phía chính quyền và Hợp tác xã: Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thủy lợi dẫn nước từ hồ Suối Chiếu về Suối Tấc nhằm khắc phục tình trạng khô hạn; tăng cường hỗ trợ nguồn vốn đối ứng phân bón hữu cơ; đổi mới công tác tập huấn kỹ thuật phòng trừ sâu bệnh sinh học.
  • Về khâu tổ chức sản xuất và tiêu thụ: Thúc đẩy dồn điền đổi thửa hoặc tổ chức sản xuất liền vùng, liền khoảnh theo quy mô hợp tác xã; xây dựng lại cơ chế thu mua linh hoạt giữa doanh nghiệp và nông hộ để khuyến khích người dân bán thóc tươi theo chuỗi giá trị; đẩy mạnh xây dựng thương hiệu hạt gạo Phù Yên trên thị trường.

Đóng góp của khóa luận

Khóa luận cung cấp bức tranh thực nghiệm chi tiết về sự chuyển đổi nông nghiệp hữu cơ tại một vùng miền núi phía Bắc dưới lăng kính xã hội học nông thôn. Nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ tương tác giữa các yếu tố nhân khẩu (tuổi tác, giới tính, di cư lao động) với khả năng tiếp nhận quy trình kỹ thuật mới và tính khả thi của chuỗi liên kết nông nghiệp.


Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài: Khóa luận được triển khai trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, thời gian khảo sát thực địa ngắn (từ tháng 1/2022 đến tháng 3/2022) và quy mô mẫu giới hạn ở 60 hộ gia đình tại một xã duy nhất (xã Quang Huy). Do đó, khả năng khái quát hóa số liệu cho toàn bộ vùng Tây Bắc còn hạn chế.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo: Mở rộng phạm vi khảo sát ra các xã lân cận trong huyện Phù Yên; nghiên cứu sâu hơn về hiệu quả tài chính so sánh chi tiết giữa lúa hữu cơ và lúa vô cơ; đánh giá tác động dài hạn của các chính sách hỗ trợ nông thôn mới đến sự duy trì vùng nguyên liệu sau giai đoạn dịch bệnh.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:

  • Sinh viên, học viên chuyên ngành Xã hội học, Xã hội học Nông thôn, Phát triển Nông thôn và Kinh tế Nông nghiệp trong việc tham khảo khung phân tích hành vi nông hộ dựa trên lý thuyết Weber và Homans.
  • Người thực hiện đề tài nghiên cứu về chuỗi giá trị nông sản, nông nghiệp hữu cơ tại khu vực trung du và miền núi phía Bắc.
  • Cán bộ quản lý nông nghiệp địa phương, ban quản lý hợp tác xã trong việc hoạch định chính sách hỗ trợ lao động, chuyển dịch đất đai và kết nối doanh nghiệp thu mua.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận sử dụng những lý thuyết xã hội học nào để giải thích hành vi sản xuất của người dân?
Tác giả vận dụng Lý thuyết hành động xã hội của Max Weber (tập trung vào hành động hợp lý về mục đích, hợp lý về giá trị và hành động truyền thống) và Lý thuyết trao đổi xã hội của George Homans (nguyên lý chi phí - lợi ích, phần thưởng - trừng phạt) để lý giải các quyết định canh tác và ứng xử kinh tế của nông hộ.

2. Vì sao phụ nữ chiếm tỷ lệ cao (63,3%) trong lực lượng sản xuất lúa chính tại xã Quang Huy?
Do tác động của quá trình công nghiệp hóa, lực lượng lao động nam giới và lao động trẻ có xu hướng đi làm ăn xa hoặc làm công nhân tại các nhà máy, xí nghiệp ngoại huyện (hơn 14.000 lao động của huyện Phù Yên đi làm xa). Phụ nữ ở lại địa phương vừa quán xuyến gia đình vừa đảm nhiệm chính công việc đồng áng theo tập quán truyền thống.

3. Quy mô diện tích đất trồng lúa phổ biến nhất của các hộ được khảo sát là bao nhiêu?
Khoảng diện tích phổ biến nhất là từ 1.501 m² đến dưới 2.000 m² (chiếm 33,3% tổng số hộ khảo sát), tiếp theo là nhóm từ 1.001 m² đến dưới 1.500 m² (chiếm 23,3%). Phần lớn các hộ sở hữu từ 3 đến dưới 10 sào đất trồng lúa, phản ánh tình trạng đất canh tác nhỏ lẻ, manh mún.

4. Vì sao hợp đồng liên kết thu mua 10 năm với Công ty Cổ phần Chế biến Nông sản Bảo Minh không thực hiện được?
Do quy mô canh tác manh mún và mục đích sản xuất của người dân chủ yếu là để ăn và tự bảo đảm an ninh lương thực gia đình. Tỷ lệ hộ có nhu cầu bán thóc tươi chỉ đạt khoảng 5%, không tạo đủ sản lượng tập trung để doanh nghiệp tổ chức phương tiện và dây chuyền thu mua theo hợp đồng.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Đinh Thị Nhật Minh đã phản ánh toàn diện thực trạng sản xuất và tiêu thụ lúa theo hướng hữu cơ của các hộ gia đình tại xã Quang Huy, huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La. Nghiên cứu làm sáng tỏ bức tranh nông thôn miền núi với đặc trưng lao động già hóa, nữ hóa, đất đai manh mún và mục đích sản xuất tự cung tự cấp là chủ đạo. Những phát hiện thực nghiệm và phân tích lý thuyết trong đề tài cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng để địa phương hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển vùng lúa hữu cơ bền vững và tháo gỡ các nút thắt trong chuỗi liên kết giá trị nông sản.