Chương 1: Cơ sở lý luận về BHXH và quản lý thu nợ BHXH. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý thu nợ BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc. Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý thu nợ BHXH tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc. CHUONG 1: CO SO LY LUAN VE BAO HIEM XA HOI VA QUAN LY THU NO BAO HIẾM XA HỘI 1.
Những van đề chung về Bao hiểm xã hội và nợ bao hiểm xã hội 1. Một số khái niệm chung 1. Khái niệm Theo từ điển Bách khoa: “BHXH là sự đảm bảo, thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động khi họ mất hoặc giảm thu nhập do bị ốm đau, thai sản, tai nạn lao động và bệnh nghé nghiệp, tàn tật, thất nghiệp, tudi gia, tử tuất, dựa trên cơ sở một quỹ tài chính do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, có sự bảo hộ của nha nước theo pháp luật, nhằm đảm bảo, an toàn đời sông cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm bảo an toàn xã hội” [13]. Công ước 102 của Tổ chức lao động quốc tế (ILO) đưa ra khái niệm về BHXH như sau: “BHXH là sự bảo vệ xã hội cung cấp cho các thành viên của mình thông qua một loạt các biện pháp công cộng, nhằm chống lại những sự kiện không thuận lợi, những rủi ro xã hội dẫn đến việc ngừng hoặc giảm sút đáng kế về thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, tàn tật, tuổi già và chết; đồng thời bảo đảm chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con” [13].
Khái niệm này đã phản ánh được sự kết hợp hai mặt của BHXH là mặt kinh tế và mặt xã hội. Còn theo khái niệm của BHXH Việt Nam: “BHXH là sự bảo vệ của xã hội đối với người lao động thông qua việc huy động các nguồn đóng góp dé trợ cấp cho họ, nhằm khắc phục những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc bị giảm thu nhập gây ra bởi ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, mất khả năng lao động, tuôi già và chết. Đồng thời, bảo đảm chăm sóc y tế cho các thân nhân trong gia đình người lao động, dé góp phần ồn định cuộc sống của ban thân người lao động và gia đình, góp phan an toàn xã hội ” [2]. Như vậy có thể khái quát về BHXH như sau: BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan cho người lao động, khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm suy giảm sức khỏe, mất khả năng lao động, mất việc làm, chết; gắn liền với quá trình tạo lập một quỹ tiền tệ tập trung được hình thành bởi các bên tham gia BHXH đóng góp và việc sử dụng quỹ đó cung cấp tài chính nhằm đảm bảo mức sống cơ bản cho bản thân người lao động và những người ruột thịt (bố, mẹ, vợ/chồng, con) của người lao động trực tiếp phải nuôi dưỡng, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Bản chất, đặc điểm và vai trò của bảo hiểm xã hội * Bản chất của BHXH [13] Trong quá trình sinh tồn và trưởng thành, mỗi con người phải lao động dé làm ra của cải vật chất, nhằm thỏa mãn những nhu cầu thiết yếu nhất là ăn, ở, mặc, sinh hoạt. Nhưng trong thực tế, không phải lúc nào con người cũng gặp may mắn, thuận lợi, có đầy đủ thu nhập và mọi điều kiện sinh sống bình thường. Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, trắc trở, rủi ro xảy ra do điều kiện tự nhiên, môi trường sống, hoặc điều kiện khách quan như: Môi trường, ốm đau, tai nạn, mat việc làm, già yếu, không có khả năng lao động, tử vong. Vì vậy, từ xa xưa con người đã có ý thức san sẻ, cưu mang đùm bọc lẫn nhau, trong cộng đồng làng, xóm, thôn, bản.
theo tinh thần tương thân tương ái. “Nhường cơm sẻ áo”, “lá lành đùm lá rách”. Sự tương trợ cộng đồng dần dần được mở rộng và phát triển đưới nhiều hình thức khác nhau như việc lập quỹ tương tế, các hội đoàn bằng tiền hoặc băng hiện vật để trợ giúp lẫn nhau. Những hình thức trợ giúp tự nguyện của cá nhân, của cộng đồng đã góp phần bảo đảm nguồn vật chất cần thiết đối với những người hoạn nạn, khó khăn, thiếu thốn.
Đây chính là hình thức hình thành nên Bảo hiểm. Sự trợ giúp này là thụ động, cục bộ, không ồn định và không chắc chắn. Trong quá trình phát triển công nghiệp, đội ngũ làm công ăn lương tăng nhanh, cuộc song cua ho phụ thuộc vào thu nhập do lao động làm thuê mang lại. Do đó, khi mat việc làm hoặc rủi ro như ốm đau, bệnh tật luôn là mối de dọa.
Trước sức ép của người lao động có một khoản thu nhập nhất định gọi là trợ cấp dé họ trang trải những nhu cầu sinh sống thiết yêu khi 6m đau, tai nạn.trong thực tế, nhiều khi các trường hợp không thé xảy ra và người chủ không phải chi ra một đồng nào. Nhưng cũng có khi xảy ra dồn dập, buộc họ phải bỏ ra một lúc nhiều khoản tiền lớn mà họ không mong muốn. Vì thế, mâu thuẫn chủ - thợ phát sinh, giới thợ liên kết đấu tranh buộc giới chủ thực hiện cam kết. Cuộc đấu tranh này diễn ra ngày càng rộng lớn và có tác động nhiều mặt đến đời sống kinh tế xã hội.
Do vậy, nhà nước đã phải đứng ra can thiệp và điều hòa mâu thuẫn buộc cả giới chủ và giới thợ phải đóng góp một khoản tiền nhất định hàng tháng để hỗ trợ một phần khi không có việc làm, ốm đau, tai nạn. Số tiền đóng góp của cả chủ và thợ hình thành một quỹ tiền tệ tập trung có sự quản lý giám sát của nhà nước. Nhờ đó mà cuộc sống của người lao động và gia đình họ ngày càng được đảm bảo ổn định. Giới chủ cũng thấy minh đỡ bị thiệt hại về kinh tế, ôn định lực 4 lượng lao động dé phát triển sản xuất kinh doanh, tránh được những sáo trộn không cần thiết, nguồn quỹ tiền tệ tập trung được thiết lập ngày càng lớn và nhanh chóng.
Toàn bộ những hoạt động với những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ trên được thế giới quan niệm là BHXH đối với người lao động. Như vậy BHXH ra đời và phát triển là một tất yếu khách quan và ngày càng phát triển cùng với sự phát triển của mỗi quốc gia, mọi thành viên trong xã hội đều thấy cần thiết khi tham gia BHXH, nó trở thành quyền lợi và nhu cầu không thê thiếu của người lao động và là nhu cầu tất yếu khách quan. Cùng với quá trình phát triển, tiến bộ của loài người, BHXH được coi là một chính sách xã hội quan trọng của bất kỳ nhà nước nào, nhằm bảo đảm an toàn cho sản xuất, cho đời sống vật chất và tinh thần cho mọi người trong xã hội. Với tư cách là công cụ quan trọng nhất để quản lý xã hội, nhà nước phải can thiệp và tổ chức mối quan hệ thuê mướn lao động giữa chủ và thợ.
Yêu cầu giới chủ phải thực hiện những cam kết đảm bảo điều kiện làm việc và nhu cầu đời sống vật chất, tinh thần cho giới thợ, trong đó có nhu cầu về tiền lương, về chăm soc y tế, về chăm sóc khi bi ốm dau, tai nạn, tra lương khi người lao động đến tudi hưu. Đồng thời bản thân người lao động cũng phải có trách nhiệm giành một khoản thu nhập chi trả cho bản thân mình khi có những rủi ro xảy ra. Mặt khác, Nhà nước được coi như là một người chủ sử dụng lao động của mọi người lao động, vì vậy người lao động không đủ dé trang trải cho những khoản chi cho người lao động khi họ gặp phải rủi ro thì Nhà nước phải có trách nhiệm trích một phan ngân sách dé bảo dam đời sống cơ bản cho người lao động. BHXH được hình thành trên cơ sở quan hệ lao động, giữa các bên cùng tham gia và được hưởng BHXH.
Nhà nước ban hành các chế độ, chính sách BHXH, tô chức ra cơ quan chuyên trách, thực hiện nhiệm vụ quản lý hoạt động sự nghiệp BHXH. Chủ sử dụng và người lao động có trách nhiệm đóng góp dé hình thành quỹ BHXH. Người lao động (bên được BHXH) và gia đình của họ được cung cấp tài chính từ quỹ BHXH khi họ có đủ điều kiện theo chế độ BHXH quy định. Đó là mối quan hệ của các bên tham gia BHXH.
Phân phối trong BHXH là phân phối không đều, nghĩa là không phải ai tham gia BHXH cũng được phân phối với số tiền giống nhau. Phân phối trong BHXH vừa mang tính bồi hoàn, vừa không mang tính bồi hoàn. Những biến cố xảy ra mang tính tất nhiên đối với con người là thai sản (đối với lao động nữ) tuổi già và chết, trong trường hợp này, BHXH phân phối mang tính bồi hoàn vì người lao động đóng BHXH chắc chắn được hưởng khoản trợ cấp đó, còn trợ cấp do những biến cố làm giảm hoặc mat khả năng lao động, mắt việc làm, những rủi ro xảy ra trái ngược với ý muốn của con người như ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, là sự phân phối mang tính không bồi hoàn; có nghĩa là chỉ khi nào người lao động gặp phải ton thất do ốm dau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp. thì mới được hưởng khoản trợ cấp đó.
BHXH hoạt động theo nguyên tắc “Lấy số đông bù cho số ít” tức là dùng số tiền đóng góp nhỏ của số đông người tham gia BHXH dé bi dat, chia sẻ cho một số it người với số tiền lớn hơn so với số đóng góp của từng người, khi ho gặp phải những biến có rủi ro gây tốn that. Hoạt động BHXH là một hoạt động dịch vụ công mang tính xã hội cao; lấy hiệu quả xã hội làm mục tiêu hoạt động. Hoạt động BHXH là quá trình tổ chức, triển khai thực hiện các chế độ, chính sách BHXH của tô chức quản lý sự nghiệp BHXH đối với người lao động tham gia và hưởng các chế độ BHXH. Là quá trình tổ chức thực hiện các nghiệp vụ thu BHXH đối với người sử dụng lao động và người lao động: giải quyết các chế độ, chính sách và chi BHXH cho người được hưởng: quản lý quỹ BHXH và thực hiện đầu tư bảo tồn và tăng trưởng quỹ BHXH.
Đặc điểm của bảo hiểm xã hội Nền kinh tế thị trường xuất hiện khái niệm hàng hóa được mua bán, trao đổi dựa vào quy luật cung - cầu. Trong đó người ta xem sức lao động là một loại hàng hóa đặc biệt.