Thực trạng và quan điểm về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên trường Đại học Sao Đỏ

Tài liệu nghiên cứu Luận văn thực trạng quan điểm và các yếu tố liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Đại học Sao Đỏ

Chuyên ngành

Y tế công cộng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn

2012

134
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1.1. Một số khái niệm cơ bản

1.2. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên

1.2.1. Quan điểm về quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên

1.2.2. Các yếu tố có liên quan tới quan hệ tình dục trước hôn nhân

1.3. Giới thiệu sơ lược về Trường Đại học Sao Đỏ

2. CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Thiết kế nghiên cứu

2.2. Đối tượng nghiên cứu

2.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu

2.4. Phương pháp chọn mẫu

2.5. Phương pháp và công cụ thu thập thông tin

2.6. Xử lý và phân tích số liệu

2.7. Các chỉ số và chủ đề nghiên cứu

2.8. Tiêu chuẩn đánh giá

2.9. Vấn đề đạo đức trong nghiên cứu

2.10. Hạn chế của nghiên cứu, sai số và biện pháp khắc phục

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

3.2. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

3.3. Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân

3.4. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu

4.2. Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

4.3. Quan điểm về quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

4.4. Một số yếu tố liên quan đến thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC 1: MỘT SỐ KẾT QUẢ MÔ TẢ

PHỤ LỤC 2: PHIẾU CÂU HỎI TỰ ĐIỀN

PHỤ LỤC 3: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU SINH VIÊN

PHỤ LỤC 4: HƯỚNG DẪN PHỎNG VẤN SÂU CÁC ĐỐI TƯỢNG LIÊN QUAN

Tóm tắt

I. Tổng quan về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên Đại học Sao Đỏ

Năm 2012, nghiên cứu về thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của sinh viên tại trường Đại học Sao Đỏ đã chỉ ra rằng vấn đề này đang trở nên phổ biến hơn trong giới trẻ. Tỷ lệ sinh viên đã từng có quan hệ tình dục trước hôn nhân đạt 23,1%, trong đó nam sinh viên chiếm 28,2% và nữ sinh viên là 17,5%. Điều này cho thấy sự thay đổi trong quan điểm và hành vi tình dục của sinh viên, đặc biệt trong bối cảnh xã hội hiện đại.

1.1. Định nghĩa và khái niệm về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Quan hệ tình dục trước hôn nhân được hiểu là hành vi tình dục diễn ra giữa hai cá nhân chưa kết hôn. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, đây là một vấn đề nhạy cảm và có thể ảnh hưởng đến sức khỏe tâm lý và thể chất của thanh thiếu niên.

1.2. Tình hình quan hệ tình dục trước hôn nhân ở sinh viên Việt Nam

Theo các nghiên cứu trước đây, tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân tại Việt Nam đã tăng từ 16,5% lên 19,8% trong những năm gần đây. Điều này cho thấy sự thay đổi trong nhận thức và hành vi của sinh viên về vấn đề này.

II. Vấn đề và thách thức liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân

Mặc dù tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân đang gia tăng, nhưng vẫn tồn tại nhiều vấn đề và thách thức. Việc thiếu kiến thức về tình dục an toàn và các biện pháp phòng tránh thai dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng như mang thai ngoài ý muốn và các bệnh lây truyền qua đường tình dục.

2.1. Thiếu kiến thức về tình dục an toàn

Chỉ 62,4% sinh viên có kiến thức đạt về tình dục an toàn. Điều này cho thấy sự cần thiết phải nâng cao nhận thức và giáo dục giới tính cho sinh viên.

2.2. Hệ lụy từ quan hệ tình dục không an toàn

Tỷ lệ sinh viên không sử dụng biện pháp tránh thai khi quan hệ tình dục là 53,2%. Điều này dẫn đến 27,1% sinh viên nam đã làm cho bạn tình mang thai và 17,9% sinh viên nữ đã từng mang thai.

III. Phương pháp nghiên cứu về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Nghiên cứu được thực hiện tại trường Đại học Sao Đỏ với thiết kế kết hợp định lượng và định tính. Phương pháp thu thập thông tin bao gồm phỏng vấn sâu và sử dụng bộ câu hỏi tự điền, nhằm đảm bảo tính chính xác và khách quan của dữ liệu.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và đối tượng tham gia

Nghiên cứu được thực hiện trên 471 sinh viên, với độ tuổi từ 18 đến 24. Đối tượng được chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm để đảm bảo tính đại diện.

3.2. Phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu

Dữ liệu được thu thập thông qua bộ câu hỏi tự điền và phỏng vấn sâu. Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng các phương pháp thống kê để rút ra kết luận chính xác.

IV. Kết quả nghiên cứu về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Kết quả nghiên cứu cho thấy có sự khác biệt rõ rệt giữa nam và nữ sinh viên trong việc thực hiện quan hệ tình dục trước hôn nhân. Đặc biệt, đa số sinh viên có quan hệ tình dục với người yêu, cho thấy sự ảnh hưởng của tình cảm trong hành vi này.

4.1. Tỷ lệ sinh viên có quan hệ tình dục trước hôn nhân

Tỷ lệ sinh viên đã từng có quan hệ tình dục trước hôn nhân là 23,1%, trong đó nam sinh viên chiếm 28,2% và nữ sinh viên là 17,5%.

4.2. Quan điểm của sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân

Có hai quan điểm chính trong sinh viên về quan hệ tình dục trước hôn nhân: quan điểm truyền thống coi trọng giá trị trinh tiết và quan điểm hiện đại không quá coi trọng giá trị này.

V. Kết luận và khuyến nghị cho tương lai

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng cần có các chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản phù hợp hơn cho sinh viên. Việc nâng cao nhận thức về tình dục an toàn và các biện pháp phòng tránh thai là rất cần thiết để giảm thiểu các rủi ro liên quan đến quan hệ tình dục trước hôn nhân.

5.1. Khuyến nghị cho các cơ sở giáo dục

Các trường cần xây dựng chương trình giáo dục sức khỏe sinh sản phù hợp, lôi cuốn sinh viên tham gia và nâng cao kiến thức về tình dục an toàn.

5.2. Vai trò của gia đình trong giáo dục giới tính

Gia đình cần quan tâm hơn đến việc giáo dục giới tính cho con em mình, tạo điều kiện cho các em có thể chia sẻ và trao đổi về vấn đề này.

14/07/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm CO’ bản Vị thành niên và thanh niên được chia thành 4 giai đoạn như sau [6]: - Giai đoạn VTN sớm (10-13 tuổi): giai đoạn này có đặc trưng bởi sự phát triển thể chất nhanh chóng và quá trình trưởng thành về tình dục. - Giai đoạn VTN giữa (14-16 tuổi): Ở giai đoạn này, thay đổi về thể chất vẫn tiếp tục, song với tốc độ chậm hơn. Những thay đổi về tâm lý trở nên mạnh mẽ hơn và các em có xu hướng tách khỏi gia đình.

- Giai đoạn VTN muộn (17-19 tuổi): phát triển về thể chất, tâm lý dần ổn định hơn trong giai đoạn này. - Thanh niên trẻ (20-24 tuổi): về cơ bản, phát triển về thể chất đã dừng lại. Các em mong đợi nhiều hơn về sự tự lập của bản thân, mong muốn tự quyết định về sự nghiệp, hôn nhân, cũng như có ý thức trách nhiệm hơn. Những tổn thương về tâm lý và thể chất trong giai đoạn này thường nghiêm trọng và có thể liên quan đến sử dụng rượu, ma túy, quan hệ tình dục, không an toàn, tai nạn, tự tử.

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế thế giới (1998), vị thành niên là những người trong độ tuổi 10 - 19; thanh thiếu niên là những người trong độ tuổi 15-24 [50]. Tại Việt Nam, đối tượng sinh viên của các trường trung cấp, cao đẳng và đại học thường có độ tuổi từ 18 đến 24 tuổi [50]. Một số ít có thể từ độ tuổi 17 do đi học sớm so với tuổi quy định hoặc hơn 24 tuổi bởi một lý do nào đó mà vào học muộn. Do vậy đối tượng sinh viên là một bộ phận của nhóm đối tượng thanh thiếu niên.

Tình dục xét theo khía cạnh sinh học là sự phát triển tất yếu và là nhu cầu sinh lý tự nhiên của con người từ khi bước vào giai đoạn dậy thì, nó chi phối rất mạnh hành vi, tâm lý, tình cảm và nhận thức của con người Xét theo khía cạnh tâm lý - xã hội, giữa 2 cá nhân (thường là nam và nữ) có thể xuất hiện sự cuốn hút mạnh mẽ về sinh lý (cuốn hút giới tính) hoặc cuốn hút về tình cảm (cuốn hút tình yêu). Sự cuốn hút này có thế dẫn tới quan hệ hôn nhân và hình thành nên một gia đình. Tuy nhiên 6 tình dục và tình yêu có thể không phải lúc nào cũng song hành với nhau. Người ta có thể quyết định có quan hệ tình dục (QHTD) với rất nhiều lý do khác nhau như tò mò về giới tính và tình dục, muốn chiếm đoạt, do áp lực của người yêu hoặc do bạn bè xung quanh đã có QHTD chứ chưa hẳn QHTD có xuất phát điểm từ tình yêu [6].

Quan hệ tình dục, còn gọi là giao hợp hay giao cấu. Quan hệ tình dục có thể xảy ra giữa những người cùng giới, khác giới hoặc lưỡng giới với việc thực hiện quan hệ tình dục bằng những bộ phận khác, không phải là bộ phận sinh dục (quan hệ đường miệng, đường hậu môn hoặc dùng ngón tay). QHTD có thể được phân ra là hành vi tình dục thâm nhập hoặc không thâm nhập. QHTD đường âm đạo, đường hậu môn và đường miệng là tình dục thâm nhập.

Những hành vi tình dục khác và thủ dâm được coi là tình dục không thâm nhập. Trong nghiên cứu này chủ yếu đề cập đến QHTD khác giới và QHTD có thâm nhập [6], [19], Quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn nhu cầu sinh lý và duy trì nòi giống của con người. Khi cơ thể con người phát triển đến tuổi dậy thì, QHTD là nhu cầu tất yếu và tự thân của mỗi người. Tuy vậy nhu cầu tình dục của nam giới cũng có điểm khác với nữ giới.

Ở nam giới, nhu cầu tình dục mạnh hơn, cấp bách hơn và thường muốn được thỏa mãn ngay để thoát khỏi trạng thái căng thẳng. Khi có điều kiện nảy sinh ham muốn tình dục, nam giới thường ít kiềm chế được bản thân hơn nữ giới. Ở nữ giới nhu cầu tình dục ít cấp bách và nảy sinh chậm hơn tuy nhiên nhu cầu tình dục ở nữ giới lại bền bỉ hơn [6], Quan hệ tình dục THN ở thanh thiếu niên là việc thanh thiếu niên chưa kết hôn nhưng đã có quan hệ tình dục hoặc đã kết hôn nhưng tuổi bắt đầu có quan hệ tình dục sớm hơn tuổi kết hôn. Quan hệ tình dục an toàn là các hành vi quan hệ tình dục nhằm đạt cùng lúc hai yêu cầu hưởng thụ tình dục mà vẫn an toàn.

Khái niệm an toàn ở đây có nghĩa là không để cho máu, tinh dịch hay dịch tiết âm đạo của bạn tình xâm nhập vào cơ thể hoặc có sử dụng các biện pháp bảo vệ nhằm tránh có thai ngoài ý muốn và phòng tránh các bệnh LTQĐTD như lậu, giang mai, HIV/AIDS. Có thể sử dụng các cách sau đế quan hệ tình dục an toàn đó là không giao họp nhưng vẫn đạt khoái cảm bằng cách ôm hôn, vuốt ve, thủ dâm hoặc quan hệ tinh dục có sử dụng bao cao su. Trong nghiên cửu này khái niệm quan hệ tình dục an toàn đề cập đến QHTD giao hợp có sử dụng bao cao su. 7 Bệnh LTQĐTD là những bệnh lây truyền chủ yếu bằng đường tiếp xúc trực tiếp với thân thể, đặc biệt là qua sinh hoạt tình dục.

Bệnh có thể lây truyền giữa nam với nam, nữ với nữ nhưng chủ yếu gặp ở những người có QHTD khác giới. Bệnh LTQĐTD gồm các bệnh lây lan qua QHTD do các nguyên nhân gây bệnh khác nhau (vi khuẩn, vi rút hay loại đon bào) gây ra. Các bệnh LTQĐTD thường gặp như bệnh lậu, bệnh giang mai, bệnh viêm âm đạo do trùng roi, viêm âm đạo do nấm, viêm gan B, nhiễm HIV/AIDS. Các biện pháp tránh thai là các biện pháp can thiệp tác động lên cá nhân nhằm ngăn cản việc thụ thai của người phụ nữ.

Các biện pháp tránh thai thường áp dụng là thuốc, hóa chất, thiết bị đưa vào cơ thể, các thủ thuật ngoại khoa cắt đứt đường đi, ngăn cản tinh trùng gặp trứng, hoặc các nỗ lực của cá nhân nhằm tránh thụ thai. Các biện pháp tránh thai hiện nay được áp dụng như dụng cụ tử cung, bao cao su, thuốc viên tránh thai, thuốc cấy tránh thai, triệt sản nam/nữ, thuốc diệt tinh trùng, tính vòng kinh, xuất tinh ngoài âm đạo. Phá thai là biện pháp dùng thuốc và các biện pháp y học đế phá bỏ bào thai còn trong bụng mẹ. Tai biến do phá thai không an toàn thường dẫn đến những hậu quả có hại cho sức khỏe phụ nữ như có thể gây nhiễm trùng, chấn thương do nạo phá thai như thủng tử cung, băng huyết thậm chí tử vong.

Thực trạng quan hệ tình dục trước hôn nhân của thanh thiếu niên và sinh viên 1. Thực trạng trên thế giới Ngày nay trên thế giới, việc QHTD THN của TTN không còn là hiếm. Tuy nhiên tình hình QHTD THN ở TTN rất khác nhau giữa các quốc gia và châu lục. Tại Châu Phi, kết quả từ một nghiên cứu tiến hành ở 11 nước khu vực cận Sahara cho thấy hơn 50% TTN trong độ tuổi 15-19 đã từng có QHTD THN [36], Tại Châu Á, theo một nghiên cứu tiến hành tại Malaysia trên mẫu nghiên cứu gồm 4500 TTN trong độ tuổi 12-19, tỷ lệ đã từng có QHTD là 5,4% [42].

Trong một nghiên cứu so sánh tình hình thanh thiếu niên tại 14 nước trên then giới, nữ TTN chưa lập gia đình trong nhóm tuổi 15-19 ở Thái Lan và Philippin trả lời có QHTD rất thấp (1-3%) trong khi ở nam TTN cùng độ tuổi lại cao hơn nhiều (12% ở Philippin và 27% ở Thái Lan) [48], Tại các nước phát triển, việc QHTD THN còn phổ biến hơn rất nhiều. Tỷ lệ TTN dưới 20 tuổi có QHTD THN ở Anh, Pháp lần lượt là 79% và 67% [33]. Tại Mỹ, tỷ lệ QHTD THN ở TTN là 75% [37]. Như vậy, tỷ lệ QHTD THN ở các nước phát triển cao hơn rất nhiều so với các nước Châu Phi và Châu Á, trong đó tỷ lệ ở Châu Á 8 là thấp nhất.

Có thể ỉý giải sự khác biệt về tỷ lệ QHTD THN này là do sự khác biệt về quan điểm, văn hóa, các giá trị đạo đức, các chính sách khác nhau giữa các khu vực đã có tác động tới việc QHTD THN ở TTN. về tuổi bắt đầu QHTD, ngày nay TTN bắt đầu QHTD từ khá sớm. Tại Bangladesh tuổi trung bình bắt đầu có QHTD ở TTN là 15 tuổi. Ngoài ra 1/5 số trẻ dưới 15 tuổi có QHTD THN, thậm chí tuổi bắt đầu QHTD là 13 [46].

Tại Malaysia, tuổi QHTD lần đầu tiên của TTN cũng là 15 tuổi [44]. Tại Nigeria, theo nghiên cứu tiến hành ở 3 bang vùng Đông Bắc, nam TTN có tuổi bắt đầu QHTD dao động từ 10 - 24 tuổi và tuổi trung bình QHTD lần đầu là 15,7 tuổi. Nữ TTN bắt đầu có QHTD trong khoảng từ 10 - 18 tuổi và tuổi QHTD lần đầu trung bình là 16,1 tuổi [12] [31], Như vậy, mặc dù không có số liệu cụ thể về tỷ lệ nhưng có thể thấy có những trẻ QHTD lần đầu từ khi 10 tuổi. Việc TTN có QHTD THN sớm có thể gây ra những nguy cơ nghiêm trọng cho sức khỏe như các bệnh LTQĐTD, ảnh hưởng về tâm lý, sinh lý.

do cơ thể cũng như tinh thần còn chưa phát triển hoàn thiện [6]. Tại một số nước đang phát triển, kết quả nghiên cứu về kiến thức phòng tránh thai ở vị thành niên nữ chưa có gia đình tuổi từ 15 - 19 cho thấy tỷ lệ biết tên ít nhất 1 BPTT khá cao. Một số nước vùng Caribê và Mỹ La tinh tỷ lệ này là 99,2% ở Colombia, Bolivia 73% và Guatemala 67,4%. Một số nước vùng cận sa mạc Sahara - Châu Phi có tỷ lệ biết 1 BPTT là 84,6% ở Ghana và 78,4% ở Uganda.

Trong khi đó tỷ lệ này ở các nước châu Á và Đông Nam Á là 91,8% ở Philippin, Kazastan 91% và Morocco là 93,3% [33]. Hai BPTT thường được biết đến với tỷ lệ cao nhất là sử dụng bao cao su và thuốc uống tránh thai. Ở Colombia có 96,2% đối tượng nghiên cứu biết đến bao cao su và 94,5% biết thuốc uống tránh thai. Tỷ lệ này ở Ghana lần lượt là 75,7% và 64,5%, ở Philippin là 85% và 88,5%, ở Indonesia là 52,7% và 91,5%.

Ở Indonesia các BPTT truyền thống được biết đến với ty lệ thấp hơn như tính vòng kinh 5,4% và xuất tinh ngoài âm đạo 7% [33], Một nghiên cứu về hành vi tình dục trong sinh viên Mỹ năm 1995 cho thấy 15% sinh viên da đen, 13% sinh viên Tây Ban Nha đã từng mang thai hoặc làm cho người khác mang thai.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ