Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái Chương 2: Thực trạng sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái tại Công ty cô phần Camimex Group giai đoạn 2017 — 2019 Chương 3: Một số giải pháp nhằm thúc day phát triển sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái tại Công ty cô phan Camimex Group trong thời gian tới. 11 Nguyễn Hồng Thái - 11174142 CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE SAN XUẤT KINH DOANH TÔM THEO HƯỚNG SINH THÁI 1. Cơ sở lý luận về sản xuất kinh doanh theo hướng sinh thái 1. Khái niệm về sản xuất kinh doanh Sản xuất là hoạt động kết hợp các đầu vào nhân tố như lao động, tư bản, đất đai (đầu vào cơ bản) và/hoặc nguyên liệu (đầu vào trung gian) dé tạo ra hàng hóa và dịch vụ (sản phẩm, sản lượng, đầu ra).
Hoạt động này chủ yếu được khu vực doanh nghiệp thực hiện và người quản lý doanh nghiệp - tức người có quyền lựa chọn phương pháp thích hợp để kết hợp các đầu vào nhân tố - được coi là doanh nhân hay năm giữ năng lực kinh doanh. Mối liên hệ giữa sản lượng hàng hóa hoặc dịch vụ va đầu vào nhân tố được gọi là hàm sản xuất. Nó cũng quyết định chi phí sản xuất của doanh nghiệp và vì vậy còn được gọi là hàm chỉ phí. Các yếu tố sản xuất bao gồm: - Đất hay các nguồn lực tự nhiên (tài nguyên thiên nhiên) - các sản phẩm có nguồn gốc tự nhiên chăng hạn như đất đai và khoáng chat.
Chi phí cho việc sử dụng đất là địa tô. - Sức lao động - các hoạt động của con người được sử dụng trong san xuất. Chi phí thanh toán cho sức lao động là lương. - Tu bản hay vốn - Các sản phẩm do con người làm ra hay công cụ sản xuất) được sử dụng trong sản xuất các sản phâm khác.
Vốn bao gồm máy móc, thiết bị và nhà xưởng. Trong ý nghĩa chung, chỉ phí thanh toán cho vốn gọi là lãi suất. Phát triển sản xuất là một quá trình, trong đó có sự gia tăng về quy mô (gia tăng về sản lượng) và hoàn thiện về cơ cấu. Phát triển sản xuất cũng được coi là một quá trình tái sản xuất mở rộng, trong đó quy mô sản xuất sau lớn hơn quy mô sản xuất trước với điều kiện trên cơ sở thị trường có thể chấp nhận được.
Quan trọng, trong quá trình phát triển sản xuất nhà sản xuất cần chú ý đến việc phải đảm bảo tính bền vững, tức là sản xuất phải đảm bảo được đầu vào và đầu ra trên thị trường cho sản phẩm và đảm bảo được cân bằng sinh thái cho các nguồn tài nguyên môi trường. Kinh doanh là một trong những hoạt động phong phú nhất của loài người. Hoạt động này thường được thông qua các thê chế như tập đoàn, công ty. Nhưng cũng có thé là hoạt động tự thân của các cá nhân như sản xuất, buôn bán nhỏ kiểu hộ gia đình.
Kinh doanh được coi là phương thức hoạt động kinh tế trong điều kiện tồn tại nền kinh tế hàng hoá. Gồm tổng thể những phương pháp, hình thức và 12 Nguyễn Hồng Thái - 11174142 phương pháp mà chủ thé kinh tế sử dụng để thực hiện các hoạt động kinh tế của mình. Nó bao gồm quá trình đầu tư, sản xuất, vận chuyên, thương mại, tiếp thị. Trên cơ sở vận dụng quy luật giá trị cùng với các quy luật khác, nhằm đạt mục tiêu vốn sinh lời tốt nhất.
Trong thời đại ngày nay, hoạt động sản xuất kinh doanh luôn gắn liền với xã hội loài người, mỗi doanh nghiệp cần phải nắm được nhu cầu cũng như thị hiếu của thị trường dé nhằm đưa ra những chiến lược đúng đắn đạt được những mục tiêu mà doanh nghiệp đã đề ra. Hoạt động kinh doanh có đặc điểm: - Do một chủ thé thực hiện và gọi là chủ thể kinh doanh, chủ thể kinh doanh có thể là cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp - Kinh doanh phải gắn với thị trường, các chủ thé kinh doanh có mối quan hệ mật thiết với nhau, đó là quan hệ với các bạn hàng, với chủ thé cung cấp đầu vào, với khách hàng, với đối thủ cạnh tranh, với Nhà nước. Các mối quan hệ này giúp cho các chủ thể kinh doanh duy trì hoạt động kinh doanh đưa doanh nghiệp của mình này càng phát triển. - Kinh doanh phải có sự vận động của đồng vốn: Vốn là yếu tố quyết định cho công việc kinh doanh, không có vốn thì không thể có hoạt động kinh doanh.
Chủ thé kinh doanh sử dụng vốn mua nguyên liệu, thiết bị sản xuất, thuê lao động. - Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận. Khái niệm về sản xuất kinh doanh nông nghiệp theo hướng sinh thái Nông nghiệp sinh thái là mô hình nông nghiệp thế hệ mới mang đến nhiều lợi ích và thuận lợi cho người nông dân. Việt Nam nước ta ngàn năm phát triển nhờ nông nghiệp lúa nước đã bắt đầu áp dụng và triển khai mô hình nông nghiệp sinh thái mạnh mẽ và rộng rãi nham cải thiện chất lượng và gia tăng năng suất cây trồng.
Đồng thời, điều này còn phù hợp với tình hình cạnh tranh hiện tại trước nhiều quốc gia lân cận. Nông nghiệp sinh thái là loại hình nông nghiệp mới tuân theo nguyên lý về sinh thái học và kinh tế học. Mô hình này được nghiên cứu và vận dụng phương pháp hệ thống hiện đại, lợi dụng mối quan hệ tương sinh, tương khắc giữa các loài nhằm xây dựng nên một hệ thống sinh thái nông nghiệp có thể tự duy trì, đầu vào ít nhưng vẫn đảm bảo sản lượng cao. Sản xuất và tiêu dùng bền vững là việc sử dụng các dịch vụ và sản phẩm có liên quan đê đáp ứng các nhu câu cơ bản và mang lại một cuộc sông tôt hơn, đông 13 Nguyễn Hồng Thái - 11174142 thời giảm thiêu sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và nguyên liệu độc hại cũng như giảm thiêu phát thải trong suốt vòng đời sản phẩm, sao cho không làm tôn hại đến việc thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Sản xuất và tiêu dùng bền vững cung cấp chìa khóa cho phép cộng đồng và cá nhân phát triển mà không cần thiết phải hy sinh chất lượng cuộc sống đồng thời không gây nguy hại đến nhu cầu của các thế hệ tương lai. Sản xuất kinh doanh theo hướng sinh thái là SXKD trong thiên nhiên nhưng giống được chọn và quy trình sản xuất được tuân thủ nghiêm ngặt theo quy ước bó buộc về diện tích, phân bổ, chăm sóc và vệ sinh cho môi trường không bị ô nhiễm,. Cơ sở thực tiễn về sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái 1. Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái ở các nước trên thế giới 1.
Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái tai Ecuador Công ty Omarsa là một trong hai công ty xuất khâu tôm lớn nhất Ecuador và sở hữu trang tại nuôi tôm sinh thái lớn nhất thế giới. Tôm Omarsa luôn đảm bảo chất lượng bởi tuân thủ nghiêm ngặt về kiểm soát và nguyên tắc bảo vệ môi trường. Từ năm 2000 — 2018, tổng sản lượng tôm toàn cầu tăng 329% từ 1,14 triệu tan lên 4,88 triệu tấn. Trong khoảng thời gian này, nhu cầu đối với thực phẩm hữu cơ/sinh thái đã trở thành xu hướng và nhu cầu đối với tôm sinh thái cũng không ngoại lệ.
Năm 2002, các trang trại tôm sinh thái đầu tiên tại Việt Nam và Ecuador đã đạt chứng nhận Naturland. Kể từ đó, sản xuất tôm sinh thái mở rộng sang các quốc gia khác như Bangladesh, Brunei, Trung Quốc, Costa Rica,. Sản lượng tôm sinh thái ước tính đạt 16.317 tan hoặc 4% trong tông sản lượng NTTS sinh thái và tăng trưởng trong năm 2017. Omarsa bắt đầu SXKD tôm vào tháng 2/1977 khi Don Arturo Vanoni Fernandez mua lại 250ha đất đầu tiên ở đảo Chupadores Grande, Ecuador.
Công ty có 2 trại sản xuất giống, 3 trại nuôi tôm với diện tích khoảng 3.600 ha và 2 nhà máy chế biến. Trong đó, trang trại nuôi tôm sinh thái chiếm diện tích lớn nhất ở Ecuador với 1. Năm 2014, Công ty Omarsa của Ecuador trở thành nhà sản xuất tôm đầu tiên trên thế giới đạt chứng nhận ASC. Omarsa có kinh nghiệm xuất khẩu hơn 40 năm qua với hơn 50 thị trường trên thé giới; trong đó chủ yếu xuất khâu sang EU, Mỹ và Canada, Nam Mỹ và chau A.
14 Nguyễn Hồng Thái - 11174142 Trang tại nuôi tôm sinh thái của Omarsa với mật độ nuôi 5-10 con/m?, tuyệt đối không sử dụng kháng sinh hoặc thuốc trừ sâu gây hại tới hệ sinh thái; chú trọng tái tạo môi trường tự nhiên, tích cực trồng cây xanh và phục hồi rừng ngập mặn; thúc day sử dung men vi sinh và phân bón tự nhiên như Bokashi. Công ty cũng có các cơ sở phân tích hóa học nước (nước thải) và phòng thí nghiệm đề theo dõi tình trạng/ sức khỏe nuôi tôm. Tại các nhà máy chế biến, công nhân của Omarsa làm việc miệt mài để tạo ra nhiều dòng sản phẩm đa dạng, đáp ứng mọi nhu cầu của khách hàng trên toàn thé giới. Kinh nghiệm sản xuất kinh doanh tôm theo hướng sinh thái tại Thái Lan Tại Thái Lan, cơ quan nhà nước khuyến khích người dân sản xuất thân thiện với môi trường dé tránh dịch bệnh và giảm ô nhiễm.
Trong đó bao gồm việc trồng cây cho hệ thống lọc không khí, sử dụng nguồn thức ăn tự nhiên thay cho thức ăn công nghiệp và và loại bỏ thuốc trừ sâu, thuốc diệt nắm và kháng khuẩn. Trong đó, nuôi tôm sinh thái cũng là một trong những van đề được chú trọng phát trién. Nông dân sử dụng các loại vi khuẩn có lợi dé chuẩn bị hồ nuôi và thêm các loại phân bón sinh học dé thúc đây các nguồn thức ăn tự nhiên. Các loại khuẩn sinh học có lợi cũng được thêm vào thức ăn cho cá dé ngừa bệnh tật và kích thích tang trưởng.
Với những biện pháp nuôi tôm trên, kết quả thu được rất khả quan: Tỷ lệ sống cao lên đến hơn 80% và kích cỡ tôm to, đạt khoảng 50 con/kg, thời gian nuôi ngắn chỉ từ 90 — 100 ngày so với thời gian trung bình 110 ngày hiện nay. Tôm nuôi theo phương pháp sinh học cũng bán với giá cao hơn khoảng 0,33 — 0,49 USD/kg so với các loai tôm được nuôi theo phương pháp khác. Tuy nhiên, hiện nay tại Thái Lan đang có tình trạng phá hủy rừng ngập mặn để nuôi tôm. Một thách thức quan trọng là việc phân loại quyền sở hữu đất thực tế tránh tình trạng chiếm đất kiếm lời.