Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Linh Hương (chuyên ngành Luật Ngân hàng, người hướng dẫn khoa học: ThS. Nguyễn Mai Anh, Hà Nội - 2024) tập trung làm rõ thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng các quy định về huy động vốn của các tổ chức tín dụng (TCTD) tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số.
Về bối cảnh thực tiễn, tác giả chỉ ra rằng trong thời đại công nghệ số hóa và việc triển khai Đề án 06 của Chính phủ ("Phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022-2025, tầm nhìn đến năm 2030"), chuyển đổi số là con đường tất yếu để các doanh nghiệp, đặc biệt là các TCTD, duy trì năng lực cạnh tranh và mở rộng thị trường. Với tư cách là "trung gian tài chính", các TCTD vận hành hoạt động kinh doanh chủ yếu dựa trên nguồn vốn huy động từ nền kinh tế thay vì chỉ phụ thuộc vào vốn tự có. Tuy nhiên, hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động này tại Việt Nam vẫn còn bộc lộ nhiều điểm hạn chế: các quy phạm nằm rải rác ở nhiều văn bản khác nhau, một số quy định chưa đồng bộ, còn mâu thuẫn hoặc chưa theo kịp sự phát triển nhanh chóng của các mô hình ngân hàng số, công nghệ định danh điện tử và các kênh giao dịch trực tuyến. Do đó, việc nghiên cứu toàn diện hệ thống quy phạm pháp luật và thực tiễn thi hành là đòi hỏi cấp bách.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là cung cấp một bức tranh toàn diện về các quy định pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động huy động vốn, phân tích thực tiễn áp dụng tại các TCTD trong kỷ nguyên số hóa, chỉ ra những tồn tại, bất cập và đề xuất các giải pháp khắc phục. Xuất phát từ mục tiêu trên, khóa luận xác định 03 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, khái quát những vấn đề lý luận cơ bản về hoạt động huy động vốn và nội dung pháp luật quy định về hoạt động huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số (khái niệm, đặc điểm, phân loại, vai trò, chủ thể, hình thức huy động vốn).
- Thứ hai, đánh giá thực trạng pháp luật quy định về hoạt động huy động vốn của các TCTD ở Việt Nam và thực trạng áp dụng các quy định của pháp luật trên thực tiễn trong bối cảnh chuyển đổi số.
- Thứ ba, trên cơ sở đánh giá thực trạng, rút ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về hoạt động huy động vốn của TCTD tại Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Về phạm vi và đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Pháp luật về hoạt động huy động vốn của các TCTD trong bối cảnh chuyển đổi số, bao gồm các quy định thực định, sự số hóa các quy trình huy động vốn và các dữ liệu, số liệu cụ thể phản ánh thực tiễn tại Việt Nam.
- Phạm vi nội dung: Các quy định pháp luật điều chỉnh quan hệ huy động vốn của TCTD và thực tiễn thi hành.
- Phạm vi không gian: Tập trung chủ yếu tại lãnh thổ Việt Nam, đồng thời có liên hệ, tham khảo kinh nghiệm của một số quốc gia.
- Phạm vi thời gian: Về khía cạnh lập quy, khóa luận xem xét các văn bản pháp luật hiện hành (bao gồm cả các quy định mới ban hành của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024); về khía cạnh thực tiễn áp dụng, tác giả giới hạn nghiên cứu trong khoảng 15 năm trở lại đây.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Về khung lý luận, đề tài tiếp cận khái niệm vốn dưới góc độ tài chính - ngân hàng là khối lượng tiền tệ đưa vào lưu thông nhằm mục đích sinh lời, là phương tiện hoạt động cốt lõi của TCTD. Bản chất quan hệ huy động vốn được xác định là quan hệ vay nợ hoàn trả gốc và lãi giữa TCTD và các chủ thể trong xã hội. Trong bối cảnh công nghệ phát triển, khóa luận tích hợp khung lý thuyết về 3 giai đoạn chuyển đổi số ngân hàng (theo Báo cáo ứng dụng ngân hàng số tại Việt Nam của Ngân hàng TMCP Quân đội): số hóa (Digitization), chuyển đổi kỹ thuật số (Digitalization) và tái tạo số (Digital Transformation). Đồng thời, tác giả viện dẫn các khái niệm công nghệ áp dụng trong lĩnh vực ngân hàng như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), điện toán đám mây (Cloud Computing), chuỗi khối (Blockchain), sinh trắc học, tự động hóa quy trình bằng robot (RPA), định danh điện tử khách hàng (eKYC), QR code và công nghệ tài chính (Fintech).
Hệ thống cơ sở pháp lý được sử dụng xuyên suốt khóa luận bao gồm:
- Các luật: Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024), Luật Ngân hàng Nhà nước năm 2010, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Phòng, chống rửa tiền năm 2019 (sửa đổi), Luật Chứng khoán năm 2019, Pháp lệnh Ngoại hối năm 2013 (sửa đổi).
- Các nghị định và quyết định: Nghị định số 01/2021/NĐ-CP (đăng ký doanh nghiệp qua mạng), Nghị định số 101/2012/NĐ-CP (thanh toán không dùng tiền mặt), Nghị định số 87/2019/NĐ-CP, Nghị định số 59/2022/NĐ-CP (định danh và xác thực điện tử); Quyết định số 810/QĐ-NHNN ngày 11/05/2021 của Thống đốc NHNN (Kế hoạch chuyển đổi số ngành ngân hàng đến 2025, định hướng 2030), Quyết định số 149/QĐ-TTg ngày 22/01/2020 của Thủ tướng Chính phủ (Chiến lược tài chính toàn diện quốc gia), Quyết định số 630/QĐ-NHNN ngày 27/12/2017 (an toàn, bảo mật giao dịch trực tuyến), Chỉ thị số 03/CT-NHNN năm 2023.
- Các thông tư của Ngân hàng Nhà nước: Thông tư số 23/2014/TT-NHNN và Thông tư số 16/2020/TT-NHNN (hướng dẫn mở và sử dụng tài khoản thanh toán bằng eKYC), Thông tư số 48/2018/TT-NHNN (tiền gửi tiết kiệm), Thông tư số 35/2016/TT-NHNN (an toàn, bảo mật dịch vụ ngân hàng trên Internet), Thông tư số 01/2021/TT-NHNN (phát hành giấy tờ có giá), Thông tư số 12/2021/TT-NHNN, Thông tư số 21/2012/TT-NHNN, Thông tư số 18/2016/TT-NHNN, Thông tư số 03/2018/TT-NHNN, Thông tư số 14/2011/TT-NHNN.
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm chỉ đạo của Đảng, Nhà nước trong tiến trình hội nhập kinh tế. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm có: phương pháp phân tích quy phạm pháp luật, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh pháp luật, phương pháp thống kê xã hội học và phương pháp kế thừa có chọn lọc các kết quả nghiên cứu học thuật liên quan. Nguồn dữ liệu phục vụ nghiên cứu được trích xuất từ các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, các báo cáo chuyên đề của Tổng cục Thống kê, Ngân hàng TMCP Quân đội (MB), Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), các tạp chí chuyên ngành như Tạp chí Ngân hàng, Tạp chí Thị trường Tài chính tiền tệ.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam
Chương 1 xây dựng các luận điểm nền tảng về bản chất kinh tế và pháp lý của hoạt động huy động vốn. Tác giả phân tích vốn là phương tiện hoạt động đặc thù của TCTD và nhu cầu về vốn của các TCTD là không có hạn mức về lượng. Từ việc phê phán các cách tiếp cận thuần túy nghiệp vụ hoặc liệt kê hình thức, tác giả đưa ra định nghĩa pháp lý hoàn chỉnh: "Huy động vốn của các tổ chức tín dụng là hoạt động mà các Tổ chức tín dụng tập trung các khoản tiền từ các tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức huy động vốn như nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn các tổ chức tín dụng khác hoặc vay vốn Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích kinh doanh tiền tệ và đảm bảo cho nguồn vốn lưu thông có hiệu quả."
Trong kỷ nguyên số, tác giả chỉ ra Việt Nam có lợi thế dân số trẻ (độ tuổi trung bình là 33,3 tuổi) và tính đến tháng 9/2023 có khoảng 70 triệu người sử dụng internet, chiếm 70,3% tổng dân số. Tác giả khái quát 04 đặc điểm nổi bật của hoạt động huy động vốn trong bối cảnh chuyển đổi số:
- Chủ thể huy động vốn bắt buộc phải là các TCTD được cấp phép theo quy định chặt chẽ của pháp luật, vận hành kết nối trên không gian mạng và thiết bị điện tử.
- Vốn huy động là nguồn lực chủ yếu, được luân chuyển và giải ngân thông qua các kênh trực tuyến 24/7, xóa bỏ giới hạn giờ hành chính và quầy giao dịch vật lý.
- Quan hệ phát sinh bản chất là quan hệ vay nợ có hoàn trả gốc và lãi, với thông tin lãi suất và dịch vụ được công khai, minh bạch trên nền tảng số.
- Hoạt động chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của hệ thống pháp luật ngân hàng và pháp luật giao dịch điện tử nhằm bảo toàn sự an toàn hệ thống.
Về phân loại, khóa luận hệ thống hóa 04 kênh huy động vốn cơ bản:
- Nhận tiền gửi (tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm thực hiện qua phương tiện điện tử).
- Phát hành giấy tờ có giá (kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu theo Thông tư 01/2021/TT-NHNN).
- Vay vốn giữa các TCTD trên thị trường liên ngân hàng để bù đắp dự trữ bắt buộc và cân đối thanh khoản ngắn hạn.
- Vay vốn Ngân hàng Nhà nước, bao gồm 05 trường hợp NHNN cho vay đặc biệt để hỗ trợ thanh khoản hoặc phục hồi đối với các TCTD bị kiểm soát đặc biệt theo Luật Các TCTD sửa đổi năm 2017.
Về vai trò, tác giả đánh giá hoạt động này quyết định năng lực thanh toán và khả năng cạnh tranh của TCTD, giúp cắt giảm chi phí vận hành (dẫn chứng Vietcombank triển khai thành công trợ lý ảo VCB Digibot ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ khách hàng mở tài khoản, tra cứu lãi suất 24/7), mang lại sự thuận tiện cho người gửi tiền và là đòn bẩy hỗ trợ NHTW điều hành chính sách tiền tệ quốc gia.
Chương 2: Thực trạng và thực tiễn áp dụng pháp luật về hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng ở Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số
Chương 2 đi sâu phân tích hệ thống quy phạm pháp luật thực định và đánh giá thực tiễn áp dụng tại Việt Nam theo hai nhóm nội dung chính: quy định về chủ thể và quy định về hình thức huy động vốn.
Về quy định chủ thể, TCTD phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện luật định về vốn pháp định, năng lực của chủ sở hữu/cổ đông sáng lập, tiêu chuẩn người quản lý/điều hành theo Điều 50 Luật Các TCTD năm 2010, đăng ký điều lệ tại NHNN trong vòng 15 ngày kể từ ngày thông qua, đề án kinh doanh khả thi và quy trình đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử theo Nghị định số 01/2021/NĐ-CP. Pháp luật phân định rõ thẩm quyền huy động vốn giữa 04 nhóm TCTD:
| Nhóm tổ chức tín dụng |
Phạm vi và quyền hạn huy động vốn theo luật định |
Hạn chế pháp lý cụ thể |
| Ngân hàng (NHTM, NHCS, NHHTX, Ngân hàng số) |
Ngân hàng thương mại là chủ thể duy nhất được thực hiện toàn bộ các hình thức: nhận mọi loại tiền gửi, phát hành GTCG, vay liên ngân hàng, vay NHNN. |
Ngân hàng chính sách hoạt động không vì lợi nhuận nên không thực hiện toàn bộ các hoạt động huy động vốn như NHTM. |
| TCTD phi ngân hàng (Công ty tài chính, Công ty cho thuê tài chính) |
Phát hành GTCG, vay vốn TCTD khác, nhận tiền gửi của tổ chức. |
Tuyệt đối không được nhận tiền gửi của cá nhân; không được vay vốn của công ty chứng khoán, quỹ đầu tư (theo Luật Chứng khoán 2019, Thông tư 121/2020/TT-BTC). |
| Tổ chức tài chính vi mô (TCVM) |
Nhận tiền gửi tiết kiệm bắt buộc, nhận tiền gửi của tổ chức và cá nhân khách hàng TCVM bằng VND; vay vốn TCTD và cá nhân, tổ chức khác. |
Không được nhận tiền gửi thanh toán; không được phát hành giấy tờ có giá; không được vay vốn Ngân hàng Nhà nước. |
| Quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) |
Nhận tiền gửi của các thành viên, tổ chức, cá nhân; vay vốn TCTD và các tổ chức, cá nhân khác theo Luật Các TCTD năm 2010. |
Không được phát hành giấy tờ có giá; không được vay vốn trực tiếp từ Ngân hàng Nhà nước; giới hạn phạm vi địa bàn cơ sở. |
Tác giả cung cấp dữ liệu thực tiễn tính đến ngày 31/12/2023: cả nước có 1.178 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đang hoạt động tại 57/63 tỉnh, thành phố.
Về các hình thức huy động vốn trên môi trường số, khóa luận phân tích chi tiết:
- Nhận tiền gửi tiết kiệm điện tử theo Điều 19 Thông tư số 48/2018/TT-NHNN và Quyết định số 630/2017/QĐ-NHNN quy định về 10 hình thức xác thực giao dịch trực tuyến trên Internet/Mobile Banking chia thành 04 cấp độ rủi ro (loại A, B, C, D).
- Quy trình định danh điện tử mở tài khoản thanh toán (eKYC) theo Thông tư số 16/2020/TT-NHNN (sửa đổi Thông tư số 23/2014/TT-NHNN) và Nghị định số 87/2019/NĐ-CP (cho phép không gặp mặt trực tiếp khách hàng). Tác giả lưu ý phạm vi áp dụng eKYC bị giới hạn: chỉ dành riêng cho khách hàng cá nhân mang quốc tịch Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, không áp dụng cho cá nhân nước ngoài hoặc người mở tài khoản thông qua người giám hộ.
- Các yêu cầu kiểm soát bắt buộc đối với TCTD khi triển khai eKYC: tổ chức bộ phận hậu kiểm (back-office) rà soát ngay sau khi mở tài khoản; theo dõi, đánh giá rủi ro gian lận liên tục; đối soát với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư theo nguyên tắc tại Nghị định số 59/2022/NĐ-CP.
Phân tích về mặt hạn chế và rủi ro thực tế, tác giả chỉ ra công nghệ deepfake tinh vi đang đe dọa trực tiếp đến khâu xác thực thực thể sống của eKYC; vấn đề chữ ký số cho khách hàng cá nhân trong giao kết hợp đồng điện tử theo Luật Giao dịch điện tử năm 2023 vẫn còn nhiều vướng mắc kỹ thuật; nguy cơ mạo danh, thu thập trái phép thông tin cá nhân và lỗ hổng an ninh mạng tại các TCTD quy mô nhỏ.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng và hoàn thiện pháp luật về huy động vốn của tổ chức tín dụng trong bối cảnh chuyển đổi số ở Việt Nam hiện nay
Dựa trên kết quả phân tích ở Chương 2, tác giả đề xuất hai nhóm định hướng hoàn thiện:
- Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả chuyển đổi số trong nghiệp vụ: Đầu tư hạ tầng an toàn bảo mật, ứng dụng công nghệ phòng chống làm giả khuôn mặt và deepfake; hoàn thiện quy trình kiểm soát của bộ phận hậu kiểm (back-office); đẩy mạnh làm sạch dữ liệu khách hàng theo Đề án 06.
- Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật:
- Ban hành các văn bản hướng dẫn chi tiết việc triển khai Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 (có hiệu lực từ ngày 01/07/2024) và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 trong lĩnh vực tiền gửi trực tuyến.
- Tháo gỡ bất cập về quy định chữ ký điện tử, chữ ký số chuyên dùng đối với khách hàng cá nhân khi mở tài khoản thanh toán và gửi tiết kiệm online bằng eKYC.
- Xây dựng cơ chế pháp lý thống nhất về kết nối, khai thác dữ liệu từ Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư nhằm giảm thiểu tình trạng giả mạo danh tính.
- Hoàn thiện quy chuẩn an toàn thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người gửi tiền và chế tài xử lý nghiêm các hành vi vi phạm an ninh dữ liệu tài chính.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã tổng hợp các số liệu thực chứng cụ thể về bối cảnh chuyển đổi số và hệ thống TCTD tại Việt Nam:
- Tính đến tháng 9/2023, Việt Nam có khoảng 70 triệu người sử dụng internet, chiếm 70,3% tổng dân số; độ tuổi trung bình của dân số là 33,3 tuổi, phản ánh tiềm năng ứng dụng ngân hàng số rất cao.
- Tính đến ngày 31/12/2023, mạng lưới quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đạt 1.178 quỹ hoạt động trên 57/63 tỉnh, thành phố.
- Trích dẫn chính xác 05 trường hợp NHNN cho vay đặc biệt đối với TCTD bị kiểm soát đặc biệt theo Điều 3 Luật Các TCTD sửa đổi năm 2017.
Về mặt học thuật và pháp lý, tác giả đã tự xác định những điểm đóng góp mới của khóa luận so với các công trình đi trước:
- Các nghiên cứu trước đây (như khóa luận của Phạm Thị Ban năm 2008, Tường Thị Thu Huyền năm 2009; luận văn/luận án của Đào Ánh Tuyết năm 2013, Vũ Thị Huyền Trang năm 2015, Vũ Hoàng Thu Trang năm 2015) đều được thực hiện trong bối cảnh kinh tế và môi trường pháp lý cũ, chưa đi sâu nghiên cứu phương hướng hoàn thiện pháp luật trong kỷ nguyên chuyển đổi số.
- Các công trình trước đây đa phần chỉ tập trung vào hoạt động huy động vốn của khối ngân hàng thương mại, trong khi khóa luận này phân tích toàn diện khung pháp lý áp dụng cho toàn bộ các nhóm TCTD (ngân hàng, TCTD phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân).
- Công trình cập nhật kịp thời các văn bản pháp luật then chốt mới nhất tính đến thời điểm nghiên cứu, bao gồm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024, Luật Giao dịch điện tử năm 2023, Nghị định số 59/2022/NĐ-CP và Thông tư số 16/2020/TT-NHNN về eKYC.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và thời điểm hoàn thành:
- Về phạm vi thời gian thực tiễn, tác giả chỉ tập trung khảo sát hoạt động áp dụng pháp luật của các TCTD trong khoảng 15 năm trở lại đây.
- Khóa luận được hoàn thành vào đầu năm 2024, thời điểm Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 vừa được ban hành và chưa chính thức có hiệu lực (hiệu lực từ ngày 01/07/2024), do đó chưa thể đánh giá toàn diện tác động thực tế của đạo luật này qua số liệu kiểm chứng dài hạn.
- Đề tài tập trung chủ yếu vào khía cạnh pháp lý và thực trạng quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, chưa đi sâu so sánh đối chiếu kỹ thuật chuyên sâu với các mô hình thử nghiệm pháp lý (Regulatory Sandbox) hoặc mô hình ngân hàng số độc lập (Neobank) tại các quốc gia phát triển.
Hướng nghiên cứu mở rộng trong tương lai bao gồm việc theo dõi, tổng kết thực tiễn thi hành Luật Các tổ chức tín dụng năm 2024 và Luật Giao dịch điện tử năm 2023 sau khi đi vào cuộc sống, đồng thời nghiên cứu khung pháp lý điều chỉnh các rủi ro phát sinh từ trí tuệ nhân tạo tạo sinh và các phương thức thanh toán xuyên biên giới.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo thiết thực cho:
- Giảng viên và sinh viên chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Ngân hàng, Tài chính - Ngân hàng khi nghiên cứu về quan hệ tiền gửi và pháp luật điều chỉnh các giao dịch ngân hàng điện tử.
- Cán bộ pháp chế, cán bộ quản trị rủi ro tại các ngân hàng thương mại, công ty tài chính, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân trong việc rà soát quy trình mở tài khoản eKYC, nhận tiền gửi tiết kiệm online và tuân thủ các quy định phòng, chống rửa tiền.
- Các nhà làm luật và cơ quan quản lý (Ngân hàng Nhà nước) trong quá trình soạn thảo các thông tư hướng dẫn thi hành luật mới về bảo đảm an toàn dữ liệu và quản lý rủi ro gian lận trực tuyến.
Các phần nội dung đáng tham khảo nhất bao gồm: bảng phân tích thẩm quyền huy động vốn của từng loại hình TCTD (Chương 2), phân tích quy trình pháp lý về mở tài khoản bằng eKYC theo Thông tư số 16/2020/TT-NHNN, và hệ thống 04 cấp độ xác thực giao dịch điện tử theo Quyết định số 630/QĐ-NHNN.
Câu hỏi thường gặp
1. Khóa luận đưa ra định nghĩa pháp lý như thế nào về hoạt động huy động vốn của TCTD?
Tác giả định nghĩa: Hoạt động huy động vốn của TCTD là hoạt động mà các TCTD tập trung các khoản tiền từ các tổ chức, cá nhân thông qua các hình thức huy động vốn như nhận tiền gửi, phát hành giấy tờ có giá, vay vốn các TCTD khác hoặc vay vốn Ngân hàng Nhà nước nhằm mục đích kinh doanh tiền tệ và đảm bảo cho nguồn vốn lưu thông có hiệu quả.
2. Tại sao các công ty tài chính không được phép nhận tiền gửi từ cá nhân theo quy định pháp luật?
Theo phân tích của khóa luận, phần lớn công ty tài chính tại Việt Nam ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu thu xếp vốn nội bộ của các tập đoàn, tổng công ty lớn; các dự án được cấp tín dụng thường có quy mô lớn và thời gian thu hồi vốn chậm hơn so với ngân hàng thương mại. Do đó, pháp luật không cho phép công ty tài chính nhận tiền gửi từ cá nhân để phòng ngừa rủi ro mất thanh khoản và bảo vệ quyền lợi người gửi tiền nhỏ lẻ.
3. Phạm vi đối tượng được mở tài khoản thanh toán bằng phương thức điện tử (eKYC) được giới hạn như thế nào?
Căn cứ Thông tư số 16/2020/TT-NHNN (sửa đổi Thông tư số 23/2014/TT-NHNN), việc mở tài khoản bằng eKYC chỉ áp dụng đối với khách hàng cá nhân là công dân Việt Nam từ đủ 18 tuổi trở lên có năng lực hành vi dân sự đầy đủ. Quy trình này không áp dụng cho khách hàng cá nhân là người nước ngoài, người chưa đủ 15 tuổi, hoặc người mở tài khoản thông qua người giám hộ, người đại diện theo pháp luật.
4. Khóa luận ghi nhận bao nhiêu quỹ tín dụng nhân dân cơ sở và tỷ lệ người dùng internet tại Việt Nam là bao nhiêu?
Theo số liệu được trích dẫn trong khóa luận:
- Tính đến ngày 31/12/2023, Việt Nam có 1.178 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở đang hoạt động trên 57/63 tỉnh, thành phố.
- Tính đến tháng 9/2023, Việt Nam có khoảng 70 triệu người sử dụng internet, chiếm 70,3% tổng dân số.
5. Khóa luận chỉ ra những rủi ro kỹ thuật và pháp lý nổi bật nào đối với phương thức eKYC?
Tác giả chỉ ra 02 thách thức lớn: thứ nhất là công nghệ làm giả hình ảnh tinh vi (deepfake) có khả năng vượt qua bước kiểm tra thực thể sống trong nhận diện sinh trắc học; thứ hai là sự thiếu vắng các quy định cụ thể, thống nhất về việc sử dụng chữ ký số cá nhân trong quy trình eKYC khi xác lập giao kết hợp đồng điện tử.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hoàng Linh Hương đã hệ thống hóa toàn diện các vấn đề lý luận và thực tiễn pháp lý về hoạt động huy động vốn của các tổ chức tín dụng tại Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số. Công trình làm nổi bật tính đặc thù về thẩm quyền của 04 nhóm TCTD, phân tích sâu sắc các cơ chế định danh eKYC, nhận tiền gửi tiết kiệm điện tử và nhận diện các rủi ro pháp lý phát sinh từ công nghệ mới. Các đề xuất hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và tăng cường năng lực hậu kiểm được xây dựng có căn cứ khoa học, đóng góp giá trị tham khảo thiết thực cho công tác lập quy và quản trị ngân hàng hiện nay.