Chương 1 TÔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm về nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực 7. Khái niệm nguồn nhân lực Ngày nay, khi nhàn loại bước vào nền kinh tế tri thức, người ta bắt đầu nói nhiều đến nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế thì đối với các nhà quản lý ở mọi lĩnh vực, vấn đề quản lý nhân lực được đặt lên hàng đầu. Không ngừng bồi dường nhân lực, tạo điều kiện để phát huy tài năng, trí sáng tạo phục vụ cho sự phát triển của đơn vị.
Nguồn nhân lực là khái niệm tổng hợp bao gồm các yếu tố số lượng, chất lượng và cơ cấu phát triển người lao động cả ở hiện tại cũng như trong tương lai. Nguồn nhân lực cũng phản ánh tiềm năng của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia và thế giới: - Số lượng nhàn lực: nói đến nguồn nhân lực của bất kỳ một tồ chức, một địa phương hay một quốc gia nào câu hởi đầu tiên đặt ra là có bao nhiêu người và sẽ có bao nhiêu nữa Ưong tương lai. Đấy là câu hỏi cho việc xác định số lượng nguồn nhân lực. Sự phát triển số lượng nguồn nhân lực dựa frên hai nhóm yếu tố bên trong và bên ngoài của tổ chức như sự gia tăng về dân so hay lực lượng lao động di dân.
- Chất lượng nhản lực: là yếu tố tổng hợp của nhiều yếu tố bộ phận như trí tuệ, trình độ, hiểu biết, đạo đức, kỹ năng, sức khỏe, thấm mỹ,. của người lao động. Trong các yếu tố trên thì ưí lực và thể lực là hai yếu tố quan frong trong việc xem xét đánh giá chất lượng nguồn nhân lực. - Cơ cấu nhân lực: là yếu tố không thể thiếu khi xem xét đánh giá về nguồn nhân lực.
Cơ cấu nhân lực thể hiện trên phương diện khác nhau như: cơ cấu trình độ đào tạo, giới tính, độ tuổi. Cơ cấu nhân lực của một quốc gia nói chung được quyết định bởi cơ cấu đào tạo và cơ cấu kữìh tế, theo đó sẽ có một tỷ lệ nhất định nhân lực [23], ■ 5 1. Quản lý nguồn nhân lực “Quản lý nguồn nhân lực là hệ thong các triết lý, chính sách, hoạt động chức năng ve thu hút, đào tạo - phát triên và duy trì con người cua một tô chức nhằm đạt đirợc kết quà tối ưu cho ca tổ chức lẫn nhân viên". Con người được xem là tài sản quý báu của tổ chức, doanh nghiệp.
Các doanh nghiệp chuyển từ tình trạng “tiết kiệm chi phi lao động đê giam giá thành ” sang “đầu tư vào nguồn nhân lực đê có lợi thế cạnh tranh cao ” [ 19], Từ quan điểm này, quản lý nguồn nhân lực được phát triển trên cơ sở các nguyên tắc chủ yếu sau: - Nhân viên cần phải được đầu tư thỏa đáng để phát triển các năng lực riêng nhằm thỏa mãn nhu cầu cá nhân, đồng thời tạo ra năng suất lao động, hiệu quả làm việc cao và đóng góp tốt nhất cho tổ chức. - Các chính sách, chương trình và thực tiễn quản lý cần được thiết lập, thực hiện sao cho có thể thỏa mãn cả nhu cầu vật chất lẫn tinh thần của nhân viên. - Môi trường làm việc sao cho có thể kích thích nhân viên phát triển và sử dụng tối đa các kỹ năng cùa mình. - Các chức năng nhân sự cần được thực hiện phối hợp và là bộ phận quan họng trong chiến lược kinh doanh của tổ chức[19].
Theo WHO- khu vực Tây Thái Bình Dương (WPRO), “quản lý nguồn nhân lực là một quá hình tạo ra môi trường tổ chức thuận lợi và đảm bảo rằng nhân lực hoàn thành tốt công việc của mình bằng việc sử dụng các chiến lược nhằm xác định và đạt được sự tối ưu về số lượng, cơ cấu và sự phân bố nguồn nhân lực với chi phí hiệu quả nhất. Mục đích chung là để có số nhân lực cần thiết, làm việc tại từng vị hí phù hợp, đúng thời điềm, thực hiện đúng công việc, và được hỗ hợ chuyên môn phù hợp với mức chi phí hợp lý” [39], Theo quan niệm hước đây, quản lý nguồn nhân lực trước tiên chỉ tập trung vào việc tuyển dụng, xác định mức lương và cơ chế tăng lương, quản lý bảo hiếm xã hội, đánh giá công việc về mặt hành chính có kèm theo động lực khuyến khích, sa thải khi cần thiết, cũng như việc đào tạo và các nhiệm vụ quản lý hành chính khác. Trách nhiệm của nhà quản lý là thực hiện các nhiệm vụ đó hiệu quả, hợp pháp và đảm bảo sự công bằng và nhất quán. Tuy nhiên, theo quan niệm hiện nay, quàn lý nguồn nhân lực được hiểu rộng hơn, bao gồm cả nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực.
Các chức năng cơ bản của quản lý nhân lực Hoạt động quản lý nguồn nhân lực liên quan đến tất cả các vấn đề thuộc quyền lợi, nghĩa vụ và ưách nhiệm của nhân viên nhằm đạt được hiệu quả cao cho cả tổ chức lẫn nhân viên. Trong thực tiễn, những hoạt động này rất đa dạng, phong phú và rất khác biệt tùy theo đặc điểm cơ cấu tổ chức. Hầu như tất cả các tô chức đều phải thực hiện các hoạt động cơ bản như: xác định nhu cầu nhân viên, lập ke hoạch tuyển dụng, bố frí nhân viên, đào tạo, khen thưởng nhân viên, frả công. Mặc dù, các chương trình và hoạt động quản lý nguồn nhân lực rất đa dạng và phong phú, mô hình quản lý nguồn nhân lực có ba nhóm chức năng chính: thu hút nguồn nhân lực, đào tạo và phát triển và cuối cùng là duy trì nguồn nhân lực.1: 3 nhóm chức năng cũa mục tiêu quàn lý nguồn nhân lực [19] 7 1.
Chức năng thu hút nguồn nhân lực Nhóm chức năng này chú trọng vấn đề đảm bảo có đủ số lượng nhân viên cũng như chất lượng phù họp với công việc của từng cơ quan, đơn vị. Đê có thể tuyển được đúng người cho đúng việc, trước hết phải căn cứ vào kế hoạch hoạt động và thực trạng sử dụng nhân viên nhằm xác định được những công việc nào cần tuyển thêm người. Muốn vậy tổ chức phải được tiến hành kế hoạch hóa nhân lực; biên chế nhân lực và tuyển mộ, tuyển chọn, bố trí nhân lực; phân tích thiết ke công việc. Kế hoạch nhàn lực: là một quá trình nghiên cứu, xác định nhu cầu nguồn nhân lực, đưa ra các chính sách và thực hiện các chương trình hoạt động đảm bào cho tố chức có đủ nhân viên với các phẩm chất, kỹ năng phù họp để thực hiện công việc có chất lượng và hiệu quả cao.
Biên chế nhân lực. là quá trình thu hút người có trình độ vào tổ chức, lựa chọn người đáp ứng yêu cầu công việc trong những ứng cử viên xin việc rồi sắp xếp hợp lý (đúng người, đúng thời điểm) nhân viên vào các vị trí phù họp trong tổ chức. Tuyên dụng nguồn nhân lực: nhiệm vụ của tuyên dụng nguồn nhân lực là xúc tiến các hoạt động nhằm thu hút các ứng viên thích họp cho tổ chức. Các yêu cầu về sự công bằng và dân chủ trong việc lựa chọn các ứng viên ngày càng được chú trọng, làm cho quy trình lựa chọn nhân viên ngày càng trở nên chặt chẽ, họp lý.
Một tổ chức muốn tồn tại và phát triển cần thực hiện việc tuyển dụng nguồn nhân lực. Quá trình lựa chọn gồm một số bước quan trọng. Bước đầu tiên đó là việc xác định nhu cầu các vị trí mới và xác định những kỹ năng nào cần thiết đê thực hiện công việc hữu hiệu. Xác định được các năng lực và khả năng cần thiết, giúp cho việc tuyển dụng nguồn nhân lực một cách dễ dàng, thiết lập được nhiều chiến lược tuyển dụng khác nhau.
Quy trình xem xét và đánh giá đe lựa chọn ứng viên có thể gồm có việc điền phiếu thông tin ứng viên, phỏng vấn, kiểm fra năng lực. Hình thức tuyển dụng thường được công khai, với các tiêu chuẩn rõ ràng đối với tất cả các ứng viên. Phần tích, thiết kế công việc: phàn tích công việc là quá trình thu thập, phân tích và sắp xếp một cách hệ thống thông tin về đặc điểm một công việc cụ thể, là công cụ 8 cơ sở cho thiết lập hệ thống chọn lựa và chương ưình huấn luyện và đảm bảo rằng hệ thống đánh giá và thù lao được xây dựng trên cơ sở nhu cầu công việc. Phân tích, thiết kế công việc thường được sử dụng để xây dựng chức năng, nhiệm vụ và yêu cầu về trình độ kỹ thuật của công việc làm cơ sở cho công tác tuyển mộ, tuyển chọn, đào tạo, thù lao./7 9/ Để xác định được có bao nhiêu ứng viên từ ữong nội bộ, các tổ chức nên có thông tin về số lượng, chất lượng về đặc điềm cá nhân của nhân viên thông qua việc thu nhập và xây dựng hồ sơ nhân viên, biểu đồ thuyên chuyển nhân viên và phiếu thăng chức.
Trong hồ sơ nhân viên cần có thông tin tuổi tác, sức khòe, thời gian còn có thể làm việc trong tồ chức, trình độ học vấn, chuyên môn, các lớp đào tạo đã qua, các khả năng đặc biệt, mức lương, mức độ hoàn thành công việc hiện tại, khả năng thăng tiến. Những thông tin này được lưu trữ trên máy tính hay bằng tay, thường được sử dụng để xác định ai trong số các nhân viên hiện tại có thể thăng cấp hoặc phù hợp với công việc mới. Tuy nhiên, khi nguồn nhân lực không thể thỏa mãn được nhu cầu phát triển của tổ chức thì phải lấy thêm nhân lực từ bên ngoài, cần đưa ra các hình thức thu hút ứng viên bên ngoài như: thông qua quàng cáo, thông qua văn phòng dịch vụ lao động, sinh viên tốt nghiệp từ các trường đại học, các hình thức khác như theo giới thiệu của chính quyền, của nhân viên tổ chức, do ứng viên tự đến xin việc hoặc qua hệ thống Internet [19]. Việc hiểu biết được một cách chính xác nhu cầu nhân lực của tổ chức và thông qua phương pháp tim kiếm hữu hiệu để thu hút nhàn tài là điều kiện tiên quyết và là khâu quan ưọng trong quá trình tuyền trọn và sử dụng nhàn viên.
Chức năng đào tạo và phát triển Ngày nay, cùng với sự phát friển khoa học và công nghệ, kiến thức của loài người frong các lĩnh vực tích luỹ với tốc độ nhanh. Theo ước tính của các nhà khoa học, sau 5 năm kiến thức loài người được tích luỳ gấp đôi. Và chính do môi trường kinh doanh ngày càng biến đổi, cạnh ưanh nên sự cần thiết cho đào tạo và phát triển nguồn nhân lực để thích ứng với môi trường, ngày càng trở nên nhiệm vụ quan frọng.