ĐẶT VẤN ĐỀ Thực hiện chăm sóc sức khỏe cần nhiều loại nguồn lực khác nhau nhƣng nhân lực là nguồn lực quan trọng nhất trong các nguồn lực. Nguồn nhân lực quyết định toàn bộ số lƣợng cũng nhƣ chất lƣợng các hoạt động y tế [4]. Nhân lực là thành tố, là tài sản quan trọng nhất của mọi cơ sở KCB nhằm đảm bảo đạt đƣợc mục tiêu đã đề ra, là yếu tố cơ bản cho mọi thành tựu y tế. Đã có những bằng chứng về số lƣợng và chất lƣợng của nhân viên y tế có sự kết hợp chặt chẽ với các hoạt động y tế triển khai.
Chất lƣợng và mật độ của BS cho thấy có liên quan đến sự tác động tốt đối với bệnh lý trong cộng đồng [30]. Tuy nhiên, nguồn nhân lực y tế đang thiếu hụt nghiêm trọng ở quy mô toàn cầu. Theo ƣớc tính của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), có 57/192 quốc gia thiếu hụt NVYT. Cần phải có thêm 4,3 triệu NVYT (trong đó có 2,4 triệu bác sĩ, y tá, nữ hộ sinh) để đáp ứng nhu cầu về y tế.
Ngoài nguyên nhân do thiếu chuẩn bị đầu vào, nguồn nhân lực còn bị thiếu hụt do những nguyên nhân khác nhƣ di cƣ, thay đổi nghề nghiệp, nghỉ hƣu sớm do sức khỏe [30]. Tuy nhiên, những nghiên cứu trên Thế giới đã chỉ ra rằng sự hài lòng đối với công việc của NVYT sẽ đảm bảo duy trì đủ nguồn nhân lực và nâng cao chất lƣợng các dịch vụ y tế tại các cơ sở KCB [17]. Tại các quốc gia thuộc khu vực Châu Á - Thái Bình Dƣơng, thiếu hụt nguồn nhân lực y tế đang là một vấn đề nghiêm trọng cần phải đƣợc xem xét nhƣ một phần không thể tách rời trong tổng thể việc củng cố hệ thống y tế [22]. Việt Nam cũng đang đƣơng đầu với những vấn đề về nguồn nhân lực, đặc biệt là sự thiếu hụt nguồn lực y tế cũng nhƣ mất cân đối giữa các chuyên ngành và phân bố giữa các vùng miền [2].
Cùng với sự phát triển nền kinh tế thị trƣờng đang có sự chuyển dịch nguồn nhân lực từ khu vực công sang khu vực tƣ, trong đó có tình trạng chảy máu chất xám của Ngành Y tế, vấn đề này đã tạo nên ít nhiều những tâm lý không ổn định trong đội ngũ NVYT, đặc biệt là đối với lực lƣợng BS [2]. Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên là một bệnh viện công lập đƣợc xếp hạng II theo quy định của Bộ Y tế, có nhiệm vụ khám và điều trị bệnh, CSSK cho nhân dân 2 trong tỉnh và những khu vực lân cận. Đến ngày 01/01/2010 BVĐK tỉnh có 656 nhân viên: trong đó có 122 BS (05 CKII, 73 CKI, 16 thạc sỹ), 02 DS đại học, 292 ĐD và NHS, 39 KTV. Chỉ tiêu của BV là 500 giƣờng bệnh (đạt tỷ lệ 1,3 nhân viên/giƣờng bệnh); đƣợc chia ra: 18 khoa lâm sàng, 6 khoa cận lâm sàng và 6 phòng chức năng.
Mỗi ngày BV thực hiện khám ngoại trú hơn 1000 ngƣời và điều trị nội trú khoảng hơn 600 bệnh nhân - đây là một lƣu lƣợng BN khá lớn so với chỉ tiêu đƣợc giao [1]. Trong thời gian qua, BV đã có nhiều nỗ lực để hoàn thành các mục tiêu đề ra. Các khoa, phòng đã có nhiều cố gắng để nâng cao chất lƣợng phục vụ ngƣời bệnh. Tuy nhiên, BV vẫn còn một số tồn tại cần khắc phục nhƣ: thời gian chờ của bệnh nhân còn khá lâu ở một số khoa (Khoa Khám bệnh, Khoa Chẩn đoán hình ảnh.); phƣơng tiện phục vụ cho sinh hoạt ngƣời bệnh chƣa đầy đủ vì quá tải bệnh nhân; một số khoa phòng để xảy ra tai biến trong điều trị; tình hình nhân lực tuy có bổ sung nhƣng chƣa đầy đủ theo yêu cầu; vẫn còn một số BS có biểu hiện chƣa tốt về tinh thần, thái độ phục vụ ngƣời bệnh và chƣa hài lòng với công việc hiện tại [1].
Một số vấn đề mang tính nhạy cảm nhƣ: khen thƣởng kỷ luật, sự hài lòng với công việc, môi trƣờng làm việc, cơ hội thăng tiến… chƣa đƣợc đánh giá trong quá trình BV thực hiện Nghị định 43/CP về việc tự chủ thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập [1]. Bên cạnh chủ trƣơng thu hút và đãi ngộ các bác sĩ từ nơi khác về, thì việc chống BS xin thôi việc cũng đang đƣợc lãnh đạo bệnh viện hết sức quan tâm. Kể từ tháng 10/2007 đến tháng 11/2009 đã có 07 bác sĩ thuộc các chuyên khoa khác nhau xin thôi việc hoặc xin chuyển công tác sang các BV ở địa phƣơng khác. Để BV hoạt động tốt cần phải có nguồn nhân lực hợp lí và trong quá trình làm việc sẽ có nhiều sự tác động khác nhau đến sự hài lòng của các BS.
Do vậy, việc tìm hiểu thực trạng nguồn nhân lực và sự hài lòng của BS trong thời điểm hiện nay sẽ là cơ sở khoa học cho công tác quản lý của lãnh đạo BV trong thời gian đến. Chính vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu: “Thực trạng nhân lực và một số yếu tố liên quan đến sự hài lòng của bác sĩ Bệnh viện đa khoa tỉnh Phú Yên, năm 2010”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1. Mục tiêu chung Mô tả thực trạng nguồn nhân lực và đánh giá sự hài lòng đối với công việc của bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên; Qua đó đề xuất các giải pháp quản lý nguồn nhân lực bác sĩ nhằm đáp ứng chức năng, nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả hoạt động của bệnh viện.
Mục tiêu cụ thể 1. Mô tả thực trạng nguồn nhân lực y tế của Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên năm 2010. Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của các bác sĩ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Phú Yên. Mô tả một số mối liên quan đến sự hài lòng đối với công việc của các bác sĩ và đề xuất một số giải pháp quản lý nguồn nhân lực bác sĩ tại đơn vị.
4 Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Mô hình tổ chức, chức năng nhiệm vụ và quy định nhân lực y tế ở bệnh viện tuyến tỉnh tại Việt Nam 1. Khái niệm về bệnh viện Từ giữa thế kỷ XX, bệnh viện không còn là nơi chữa bệnh và tách rời khỏi môi trƣờng và hệ thống y tế - xã hội chung. Theo Tổ chức y tế thế giới (WHO) thì: “Bệnh viện là một bộ phận không thể tách rời của một tổ chức XH và y tế, chức năng của nó là CSSK toàn diện cho nhân dân, cả phòng bệnh và chữa bệnh, dịch vụ ngoại trú của BV phải vƣơn tới gia đình và môi trƣờng cƣ trú.
BV còn là nơi đào tạo CBYT và nghiên cứu sinh XH học” [5]. Bệnh viện là cơ sở y tế đƣợc tổ chức có các chuyên khoa, có phòng mổ, có các phƣơng tiện phục vụ cho việc chẩn đoán bệnh, có đội ngũ CBYT gồm các bác sĩ, y sĩ, y tá… Bệnh viện có chức năng CSSK nhân dân, khám chữa bệnh nội ngoại trú, phòng bệnh, giáo dục sức khỏe, nghiên cứu đào tạo cán bộ. BV đƣợc Bộ Y tế quyết định công nhận và phân theo cấp quản lý nhƣ BV tỉnh, thành phố, BV quận, huyện, thị xã. BV có thể là BVĐK hoặc BV chuyên khoa [12].
Mô hình hệ thống tổ chức 1. Mô hình chung tổ chức bộ máy y tế Việt Nam [4] Đi sâu vào: - NCKT và chỉ đạo KH- Khu KT vực - Kỹ thuật cao, mũi nhọn. Tuyến Y tế - Hỗ trợ cho tuyến trƣớc. Trung chuyên - Tiến hành xây dựng các sâu trung tâm KH-KT cao ƣơng về y tế Tuyến y tế Tỉnh, thành phố Khu - Đảm bảo mọi nhu cầu trực thuộc TW vực y CSSK cho nhân dân tế - Thực hiện CSSKBĐ Tuyến y tế cơ sở phổ - Sử dụng kĩ thuật thông (Huyện/quận, Xã/Phƣờng) cập thƣờng, phổ biến nhất có tác dụng tốt 5 1.
Mô hình tổ chức bệnh viện tuyến tỉnh Trong việc chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe cho nhân dân có rất nhiều việc phải làm, nên sau khi phân tích mô hình bệnh tật, chọn vấn đề ƣu tiên, bệnh viện phải nêu ra mục đích và viết mục tiêu cụ thể cho phù hợp với nguồn lực của đơn vị. Dựa vào mục tiêu mà lập kế hoạch hành động có khả năng thực thi phù hợp với địa bàn. Đồng thời cũng dựa trên mục tiêu mà theo dõi, giám sát, điều chỉnh việc thực hiện kế hoạch và đánh giá kết quả thực hiện tuân theo phƣơng pháp hệ thống trong quản lý hệ thống y tế [8]. Trên cơ sở đó, cùng với những quy định của Bộ y tế, các BV tỉnh sẽ thực hiện các nhiệm vụ, chức năng dựa vào mô hình tổ chức quản lý trực tuyến - tham mưu (Phụ lục 1), trong đó ban giám đốc sẽ là ngƣời ra quyết định và ban tham mƣu có vai trò giúp BGĐ ra quyết định đúng đắn.
Các khoa phòng trong BV áp dụng mô hình tổ chức trực tuyến để quản lý, đó là ngƣời lãnh đạo khoa/phòng sẽ trực tiếp điều hành và chịu trách nhiệm về sự tồn tại, phát triển của khoa/phòng. Đây là mô hình đơn giản nhất, tồn tại lâu dài nhất, trong đó có một cấp trên và một số cấp dƣới; toàn bộ vấn đề đƣợc giải quyết theo một kênh liên hệ theo đƣờng thẳng. Tất cả các cá nhân ở mỗi cấp nhất định là độc lập với những cá nhân khác cùng cấp. Công chức thực thi chỉ chịu trách nhiệm trƣớc ngƣời điều hành trực tiếp [8].
Chức năng nhiệm vụ của bệnh viện tuyến tỉnh (xếp hạng 2 theo phân loại của Bộ Y tế) [3] (1)- Cấp cứu - Khám bệnh - Chữa bệnh: - Tiếp nhận tất cả các trƣờng hợp ngƣời bệnh đến để cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh nội trú và ngoại trú. - Tổ chức khám sức khỏe và chứng nhận sức khỏe theo qui định. - Có trách nhiệm giải quyết các bệnh tật thông thƣờng về nội khoa và các trƣờng hợp cấp cứu về ngoại khoa. - Tổ chức giám định sức khỏe, khám giám định pháp y khi hội đồng giám định y khoa tỉnh hoặc cơ quan bảo vệ pháp luật trƣng cầu.
- Tổ chức chuyển bệnh lên tuyến trên khi vƣợt quá khả năng bệnh viện. 6 (2)- Đào tạo cán bộ y tế: - Bệnh viện là cơ sở thực hành cho các trƣờng, lớp trung học y tế. - Tổ chức đào tạo liên tục cho nhân viên trong BV và tuyến dƣới. (3)- Nghiên cứu khoa học về y học: - Tổ chức tổng kết, đánh giá các đề tài và chƣơng trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu.