CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tình hình cung cấp nước sinh hoạt trên thế giói Chất lượng và số lượng nước ngọt có mối liên hệ chặt chẽ với nhau. Hiện nay và trong tương lai gần, trên thế giới có đủ nước ngọt để đáp ứng nhu cầu của con người, nhưng do có sự phân bố không đồng đều của nước ngầm, nước mặt và lượng mưa nên nhiều vùng khô cằn và bán khô cằn của thế giới vẫn thiếu các nguồn nước phục vụ các nhu cầu của con người. Trên thế giới hiện nay, nguồn nước ngọt chiếm một phần rất nhỏ trong trữ lượng nước.
Trong khi có khoảng 1.000 km 3 nước trên hành tinh thì phần lớn 97,5% là trong các đại dương ở dạng nước muối, không thích họp cho con người sử dụng. Nước' ngọt chỉ chiếm 2,5% tổng trữ lượng nước, mà đó là tất cả những gì con người và các sinh vật khác phụ thuộc vào để tồn tại. Nước ngọt phân bố không đều trên khắp hành tinh, nó thay đổi cả về số lượng và chất lượng. Khoảng 70% lượng nước ngọt được tìm thấy trong các sông băng, tuyết, và đá, nhưng hầu hết không thể tiếp cận, giống như Nam Cực và Greenland.
Có khoảng 30% là nước ngầm - nguồn hước ngọt lớn nhất có sẵn cho con người. Chỉ có 0,3% nước ngọt trên hành tinh, ước tính có khoảng 105.000 km3, là nước mà chúng ta tìm thấy ở các sông, suối, ho. Neu tính cả nguồn nước mặt và nước ngầm có sẵn trong hành tinh chỉ có 200.00km3 cho con người và hệ sinh thái. Đáng quan tâm là nguồn cung cấp nước ngầm không dễ dàng bổ sung, và nếu phá vỡ chu kỳ thuỷ văn thì các tầng chứa nước có thể bị cận kiệt [38].
Trong 3 thế kỷ trở lại đây, người ta đã chứng kiến tốc độ tăng nhanh đáng kể về lượng nước được khai thác từ những nguồn trên, với tốc độ khai thác tăng 35 lần so với tốc độ tăng dân số là 7 lần. Trong những thập kỷ gần đây, thậm chí lượng nước khai thác còn tăng cao hơn nữa, với tốc độ tăng cao nhất là ở các nước đang phát triển. Việc tiếp cận với nguồn nước ít nhất cũhg trở thành vấn đề sức khỏe quan trọng khi nước bị nhiễm bẩn. Nước được phân bố rất không đồng đều trên thế giới và những khu vực thiếu nước gặp phải những vấn đề lớn hơn về vệ sinh và chất lượng nước.
Các vùng nhiệt đới và các vùng giữa của bắc bán cầu có lượng nước ngọt tiềm tàng lớn hơn so với các vùng khác trên thế giới [36]. 8 Các nguồn cung cấp nước cao nhất trên đầu người thường xảy ra ở những vùng khí hậu ẩm và mật độ dân số thấp như Iceland [39]. Cung cấp nước của các nước giàu nước Cung câp nước của các nước nghèo nước m3/đầu người m3/đầu người Iceland 606.500 United Arab Emirates 63 Papua New Guinea 174.000 Jordan 114 Solomon Islands 107.000 Saudi Arabia 119 Canada 94.1: Tình trạng cung cấp nước của một số quốc gia trên thế giới (Nguồn: Environmental Science: A global concern, seventh edition ) Trên thế giới, nhiều quốc gia đã được cải thiện rất nhiều về việc cung cấp nước cho người dân sử dụng. Đen nay đã có 5,9 tỷ người trên toàn thế giới có nguồn nước sử dụng, chiếm 87% dân số thế giới, tăng 1,8 tỷ người kể từ năm 1990 (57% dân số toàn cầu) được sử dụng nguồn nước [44].
Nhưng tỷ lệ nguồn nước được cung cấp ở các quốc gia là rất khác nhau. Nhiều vùng lãnh thổ như hạ Sahara- Châu Phi chỉ có 60% dân số được sử dụng nguồn nước, Châu Đại Dương còn thấp hơn với. Bắc Phi hay Mỹ latin có tỷ lệ cao trên 90% dân số có nguồn nước sử dụng. 9 Hạ Bắc Phi Đông Nam Châu Đại Mỹ latin và Thế giới Sahara- Á Dương Caribe Châu phi Biểu đồ 1.1: Tỷ lệ (%) dân số tiếp cận với nguồn nước của một số vùng trên thế giới năm 2008 (Nguồn: WHO, UNICEF- Progress on sanitation and drinking-water 2010 update ) Trung Quoc và An Độ là ngôi nhà của hơn một phần ba dân số thế giới.
Cả hai nước đã thực hiện đáng kể sự tiến bộ trong việc cung cấp nước cho người dân. Trung Quốc có 89% tổng dân số trong 1,3 tỷ người sử dụng nước uống được cải thiện so với 67% trong năm 1990 và Ấn Độ có 88% tổng số dân trong 1,2 tỷ người sử dụng nguồn nước uống so với 72% trong năm 1990. Việc tiếp cận với nguồn nước cũng như nước sạch có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng cũng như trong từng vùng về tiếp cận với việc được cung cấp nước. Tiếp cận với nguồn nước ở thành thị cao hơn vùng nông thôn.
Trong đó đáng kể nhất là Hạ Sahara-Châu Phi và Châu Đại Dương khi tỷ lệ được tiếp cận với nguồn nước của đô thị là 83% và 92% so với nông thôn là 47% và 37% [44], 1. Tình hình cung cấp nước sinh hoạt tại Việt Nam Tại Việt Nam, tỷ lệ nước mặt trung bình đầu người tính theo lượng nước sinh ra trong vùng lãnh thổ vào khoảng 3. Nếu tính cả dòng chảy ở ngoài lãnh thổ thì khối lượng này vào khoảng 10. Với mức độ tăng dân số như hiện nay, vào năm 2025, tỷ lệ này sẽ chỉ còn tương ứng 2.
Theo tiêu chuẩn của Hội Tài nguyên nước Quốc tế, quốc gia 10 có tỷ lệ bình quân nước đầu người thấp hơn 4.000m3/người/năm được đánh giá là Quốc gia thiếu nước. Tài nguyên nước phân bố không đều trên lãnh thổ. Khoảng 60% lượng nước sông toàn quốc tập trung ở đồng bằng sông Cửu Long, nơi sinh sống của khoảng 20% dân số cả nước, 40% lượng nước còn lại phải đáp ứng nhu cầu cho 80% dân số còn lại trên toàn quốc cũng như đáp ứng cho 90% các hoạt động sản xuất, thương mại và các hoạt động dịch vụ khác. Tổng lượng nước sinh ra trong 3-5 tháng mùa lũ tạo ra 70-80% tổng lượng nước năm; trong khi đó,7-9 tháng mùa kiệt chỉ cung cấp 20-30% lượng nước sinh ra trong năm [30].2: Tỷ lệ (%) dân số tiếp cận với nguồn nước của một số nước Châu Á năm 2008 (Nguồn: WHO, UNICEF- Progress on sanitation and drinking-water 2010 update ) Trong một số nước của Châu Á, Việt Nam có tỷ lệ khá cao trong việc tiếp cận với nguồn nước của người dân (94%), thấp hơn Malaixia (100%) và Thái Lan (98%), nhưng cao hơn nhiều nước trong khu vực.
Thấp nhất là Lào 57% và Camphuchia là 61%. Sự khác biệt giữa việc tiếp cận với các nguồn nước cũng không có sự khác biệt lớn giữa đô thị và nông thôn khi các chỉ số lần lượt là 99% và 92%. 11 Theo nghiên cứu mối liên quan giữa vệ sinh môi trường, nguồn nước hộ gia đình và hành vi vệ sinh chăm sóc trẻ của bà mẹ với tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Việt Nam được thực hiện trên 6 tỉnh thuộc 6 vùng sinh thái trên cả nước của Trần Đắc Phu năm 2010 thì có 84,9% hộ gia đình được điều tra có nguồn nước chính hiện đang sử dụng là nguồn nước thuộc loại hợp vệ sinh (HVS). Nguồn nước thuộc loại hợp vệ sinh dùng cho ăn uống và sinh hoạt nhiều nhất là nước giếng khơi (37,3%), tiếp đến là nước máy (16,5%), nước giếng khoan (14,7%), nước máng lần (9,8%) và ít nhất là nước mưa (6,6%).
Nước máy được sử dụng nhiều nhất ở An Giang và Ninh Thuận (43,8% và 41,3%), còn nước giếng khơi được sử dụng nhiều nhất ở Hà Tĩnh (63,2%). Còn 15,1% số gia đình được điều tra hiện vẫn đang sử dụng nước sông suối/ao hồ là nguồn nước chính cho ăn uống và sinh hoạt, nhiều nhất ở An Giang (53,9%), tiếp đến là Điện Biên (15,3%), Ninh Thuận (12,8%) và ít nhất ở Nam Định (0,4%)[21]. Chiến lược quốc gia về vấn đề cung cấp nước sạch và vệ sinh môi trường theo Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg ngày 25/8/200'0 của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt Chiến lược quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020. Với mục tiêu đến năm 2010 cả nước có 85% dân cư nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh, số lượng 60 lít/người/ngày, 70% gia đình và dân cư nông thôn sử dụng hố xí hợp vệ sinh và thực hiện tốt vệ sinh cá nhân.
Theo báo cáo mới nhất của chiến lược Quốc gia về cấp nước và vệ sinh môi trường nôiig thôn được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 25 tháng 8 năm 2000 theo Quyết định số 104/2000/QĐ-TTg thì tỷ lệ dân số nông thôn được sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 83%, số lượng 60 lít/người/ngày, tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu hợp vệ sinh đạt 56% vào cuối năm 2010 [6] , mặc dù con số này chưa đạt được mục tiêu của chiến lược nhưng cũng là một khích lệ rất lớn trong nỗ lực nâng chất lượng sử dụng'nguồn nước hợp vệ sinh trong đời sống nhân dân Việt Nam, và đặc biệt là những vùng nông thôn. Những nguy cơ cho sức khỏe do ô nhiễm nước và những bệnh do nước bị ô nhiễm gây ra Cải thiện điều kiện nước và vệ sinh môi trường có tác động lớn đến sức khỏe cùng với giáo dục sức khỏe và sự tham gia tích cực của cộng đồng đặc biệt trong chương trình nước sạch và vệ sinh môi trường ở nông thôn. Khi nói về tầm quan trọng của giới trong việc tiếp cận với nước sạch, những phụ nữ nghèo khó tiếp cận với nước sạch vì họ thường phải đi xa nhà lấy nước ở sông hồ và các nguồn nước tự nhiên. Nước giếng đào hoặc giếng khoan gần nhà không chỉ góp phần nâng cao sức khỏe vì cung cấp nguồn nước sạch mà còn giúp phụ nữ giảm bớt gánh nặng công việc và giúp họ có khả năng tham gia sản xuất tăng thu nhập, đồng thời có nhiều thời gian chăm sóc trẻ [18].
Sự nguy hại do uống nước trực tiếp, do ăn các loại thực phẩm, hoặc do sử dụng nước trong vệ sinh cá nhân, trong nông nghiệp, công nghiệp, sinh hoạt, giải trí nghỉ ngơi hoặc cũng có the do sống gần nguồn nước. Có hai dạng làm tổn hại đến sức khỏe có liên quan đến nước. * Những nguy cơ sinh vật học: Những tác nhân sinh vật học chính truyền qua nước có thể xếp thành 4 loại: vi khuẩn gây bệnh đường ruột, virut, ký sinh trùng và các loại vi sinh vật khác. - Vi khuẩn gây bệnh đường ruột: Các loại vi khuẩn gây bệnh xâm nhập vào cơ thể con người trực tiếp qua nước hoặc gián tiếp qua nước dùng để chế biến thực phẩm.