Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Đại cương về lo âu, trầm cảm và Stress 1.1 Định nghĩa: Lo âu là một phản ứng cảm xúc tự nhiên của con người, là cảm giác sợ hãi, mơ hồ, khó chịu lan tỏa cùng các rối loạn cơ thể ở một hay nhiều bộ phận nào đó. Lo âu thực chất là tín hiệu báo động, báo trước cho cá thể biết rằng sẽ có sự đe dọa từ bên trong hoặc bên ngoài cơ thể (những khó khăn, thử thách, đe dọa của tự nhiên hoặc xã hội), từ đó giúp con người tìm ra được các giải pháp phù hợp để tồn tại và phát triển [18]. Ernest Jones đã đưa ra các trạng thái lo âu khác nhau: sợ và lo âu.
Ông mô tả 2 nét khác nhau giữa sợ và lo âu như sau: - Sợ nói chung được coi như sự đáp ứng với kích thích đe dọa từ bên ngoài nguy hiểm có thực đang đến, vì vậy có tính chất sống còn. - Ngược lại lo âu giống như sợ nhưng lại không có sự đe dọa rõ ràng. Không cân xứng giữa kích thích bên ngoài, biểu hiện tâm thần và cơ thể. Lo âu trở thành vấn đề sức khỏe đáng quan tâm khi xuất hiện không liên quan tới một sự đe dọa nào, mức độ lo âu không cân xứng với bất kỳ một đe dọa nào và tồn tại kéo dài.
Khi mà mức độ lo âu gây trở ngại rõ rệt cho các hoạt động, lúc đó được gọi là lo âu bệnhlý. Các biểu hiện của loâu: Lo âu là một nhóm triệu chứng liên quan đến nhiều trạng thái khác nhau và ban đầu người bệnh thường đi khám ở những chuyên khoa khác nhau như tim mạch, hô hấp, thần kinh… chứ ít khi người bệnh đến thẳng chuyên khoa tâm thần. Biểu hiện của lo âu có thể diễn ra một cách từ từ hoặc là đột ngột với nhiều biểu hiện lâm sàng khác nhau. Có thể được nhận biết qua 2 nhóm biểu hiện sau.
5 - Biểu hiện về cảm xúc: sợ và lo lắng một cách quá mức trước những sự việc không đáng lo, cảm giác rất sợ chết, khiếp sợ cái chết, có vấn đề về tập trung, chú ý vào công việc, dễ bị kích thích, cảm thấy đứng ngồi không yên, cảm giác căng thẳng, hay giật mình, hay nghĩ đến những điều nguy hiểm xảy ra với mình, cảm thấy đầu óc mình trống rỗng, cảm thấy điều gì đó xấu sẽ xảy ra với mình. - Biểu hiện về triệu chứng cơ thể: lo âu không chỉ là triệu chứng của cảm xúc mà của tất cả các cơ quan, bộ phận trong cơ thể đều có thể bị ảnh hưởng và làm cho cơ thể có những biểu hiện về triệu chứng cơ thể khác nhau. Lo âu gồm các triệu chứng như: cơn nhịp tim nhanh, vã mồ hôi, khó chịu ở dạ dày hoặc cảm giác hoa mắt, chóng mặt, hay phải đi tiểu hoặc hay phải đi ngoài, thở nhanh và nông, run tay chân và co quắp tay chân, căng cơ, đau đầu, mệt mỏi và mất ngủ. Chính vì các triệu chứng này mà người bệnh dễ bị chẩn đoán nhầm với những bệnh lý khác và không được điều trị đúng chuyên khoa, hoặc phải mất thời gian dài mới có thể gặp được đúng thầy thuốc chuyên khoa tâm thần.
Định nghĩa: Trầm cảm là một dạng rối loạn tâm thần (RLTT) thường gặp nhất trong các dạng RLTT, bao gồm nhiều triệu chứng nhưng hay gặp nhất là sự buồn bã sâu sắc và người bệnh không còn quan tâm hay thích thú đối với những gì xảy ra xung quanh hoặc đối với bản thân mình. Người bệnh luôn cảm thấy mệt mỏi, mất hi vọng vào tương lai, nghĩ rằng thế giới xung quanh dường như lúc nào cũng u ám [1]. Trầm cảm có thể xuất hiện với góc độ là một phản ứng đáp lại tác động gây stress nào đó hoặc một tình huống cuộc sống nặng nề, thường là sự mất mát của bản thân: mất người thân, li hôn, …; khủng hoảng tài chính hoặc mất vai trò đã có (nghề nghiệp, gia đình,…). Trầm cảm thường xuất hiện dưới dạng phàn nàn cơ thể.
Nếu phiền muộn và buồn bã là những phản ứng bình thường với một sự mất mát nào đó thì trầm cảm lại không phải như vậy. Người có nỗi phiền muộn thì mong muốn tạo ra sự thông cảm và chia sẻ của người khác. Ngược lại, trầm cảm tạo ra 6 sự thất vọng và kích thích. Phiền muộn kèm theo tính tự trọng còn nguyên vẹn, trong khi đó trầm cảm lại nổi lên cảm giác tội lỗi và không xứng đáng.
Biểu hiệu của trầm cảm: Các triệu chứng của trầm cảm hết sức đa dạng cả về thực thể, tâm thần và hành vi. Người bị trầm cảm có nhiều biểu hiện khác nhau về mức độ nghiêm trọng, tần số và thời gian của các triệu chứng tùy thuộc vào từng cá nhân, bệnh tật cụ thể [1]: Buồn dai dẳng, lo lắng hoặc cảm giác “trống rỗng”. Cảm giác tuyệt vọng hay bi quan. Cảm giác tội lỗi, vô dụng hoặc bất lực.
Dễ bị kích thích, bồn chồn. Mất quan tâm trong các hoạt động hoặc sở thích bao gồm hoạt động tình dục. Mệt mỏi, giảm năng lượng. Khó tập trung, ghi nhớ chi tiết và ra quyết định.
Mất ngủ, tỉnh táo vào buổi sáng sớm hoặc ngủ quá nhiều. Ăn quá nhiều hoặc mất cảm giác ngon miệng. Ý nghĩ tự tử hay tự tử. Đau đầu, đau bụng hoặc rối loạn tiêu hóa.
Đối với những người bệnh nặng hơn còn gặp khó khăn hay không thể thực hiện những việc bình thường như đi ra ngoài, đi chợ hay đi học, gặp gỡ bạn bè, thăm người thân, tiếp xúc với người khác, đặt biệt là với người khác giới. Khái niệm và những biểu hiện của Stress 1. Khái niệm về stress Theo “Từ điển Y học Anh - Việt” (2007) thì: “Bất kỳ nhân tố nào đe dọa đến sức khỏe cơ thể hay có tác động phương hại đến các chức năng cơ thể như tổn thương, bệnh tật hay tâm trạng lo lắng đều gọi là stress”. Theo “từ điển tiếng Việt” stress là một cảm giác căng thẳng và dồn ép.
Áp lực với cường độ thấp có thể là một điều tốt và thậm chí có lợi ích trong công việc và sức khỏe. Stress tích cực giúp tăng hiệu suất vận động thể thao. Nó cũng có vai trò trong động lực, thích nghi và phản ứng với môi trường xung quanh. Tuy nhiên với 7 một lượng áp lực quá nhiều có thể dẫn đến nhiều vấn đề đối với cơ thể và điều đó có thể cực kì có hại.
Tác giả Tô Như Khuê quan niệm: “Stress chính là những phản ứng không đặc hiệu xảy ra một cách chung khắp, do các yếu tố có hại về tâm lý xuất hiện trong các tình thế mà con người chủ quan thấy bất lợi hoặc rủi ro, ở đây vai trò quyết định không chủ yếu do các tác nhân kích thích, mà do sự đánh giá chủ quan về tác nhân đó” [24]. Khái niệm này đề cập đến vai trò của yếu tố nhận thức và thái độ của con người trong stress. Dưới góc độ tâm lý học, Stress được hiểu như sau: “Stress là trạng thái căng thẳng về mặt tâm lý, xuất hiện ở người trong quá trình hoạt động gặp phải những biến cố, những khó khăn trong cuộc sống hàng ngày, dễ nhận thấy qua các dấu hiệu: nhịp tim tăng, huyết áp cao, cơ năng, cảm giác mệt mỏi, khó chịu, hoặc ưu phiền, chán nản. Có thể dẫn đến những hậu quả nhiều mặt tùy theo khả năng ứng phó của mỗi người”.[12] Như vậy, stress phải được hiểu một cách tổng hợp, vừa như một kích thích, vừa như một hậu quả kèm theo, bao hàm cả các yếu tố sinh học, xã hội, tâm lý trong phản ứng tâm lý của con người trước các áp lực của cuộc sống.
- Phân loại và mức độ Stress: H.Selye, một nhà nghiên cứu người Canada, phân ra stress tích cực (eustress) và stress tiêu cực (distress). Stress tích cực (eustress): Là stress mà con người có thể đối phó được. Đó là phản ứng stress thích nghi, loại stress này không thể thiếu được trong cuộc sống của con người, không có stress này cơ thể sẽ chết. Stress tiêu cực (distress): Xuất hiện khi cơ thể không còn khả năng đối phó với tình huống đe dọa, cơ thể đã mất khả năng bù trừ để lấy lại cân bằng, hay nói cách khác, khả năng thích nghi bị rối loạn.[27] Tác giả Nguyễn Thành Khải chia stress tâm lý làm 3 mức độ sau: + Mức độ 1: Rất căng thẳng.
Ở mức độ này cơ thể cảm nhận rất căng thẳng về mặt tâm lý, đây là trạng thái khó chịu con người cảm nhận được và có nhu cầu được thoát khỏi nó. Do con người rơi vào tình huống khó khăn chưa có phương án giải 8 quyết, do quá tải về công việc, quá tải về thông tin, hoặc rơi vào trạng thái căng thẳng kéo dài. Về mặt cảm xúc có thể có biểu hiện giận dữ, nóng nảy thường xuyên, mà đôi khi vô cớ hoặc lo âu, thất vọng chán chường trí nhớ giảm sút rõ rệt, tư duy kém sắc bén, khối lượng trí nhớ thu hẹp và chất lượng hoạt động giảm sút rõ rệt. + Mức độ 2: Căng thẳng.
Ở mức độ này con người cảm thấy có sự căng thẳng cảm xúc, sự tập trung chú ý cao hơn, trí nhớ, tư duy nhanh nhạy hơn,. các thông số hoạt động sinh lý cũng tăng mạnh, nhưng trạng thái này nếu kéo dài cơ thể sẽ chuyển sang trạng thái rất căng thẳng. Độ bền vững của mức độ stress này tùy thuộc vào đặc điểm tâm sinh lý cá nhân. + Mức độ 3: Ít căng thẳng.
Là trạng thái con người cảm nhận bình thường hoặc có yếu tố căng thẳng nhẹ. Ở mức này mọi hoạt động diễn ra bình thường, cơ thể huy động năng lượng với mức vừa phải, các hoạt động chú ý, trí nhớ, tư duy hoạt động bình thường, hoặc có thay đổi nhưng không đáng kể [27]. - Nguyên nhân gây stress Giáo sư Vũ Đức, Tiến sĩ dưỡng sinh Hoa Kỳ đã đưa ra những ý kiến của mình về nguyên nhân gây ra stress như sau: Stress được gây nên bởi 5 tác nhân chính yếu (stressor) như sau: * Những chuyển biến sinh lý: Những chuyển biến sinh lý trong cơ thể gây ảnh hưởng đến đời sống bình thường của chúng ta như: Bệnh tật, sự giới hạn cử động của cơ thể, sự biến đổi sinh lý tùy lứa tuổi như thiếu niên, thanh niên, trung niên và cao niên đều là những nguyên nhân tạo nên stress. * Những biến cố bất lợi trong cuộc sống: Là những thay đổi, mất mát về hoàn cảnh, gia đình, việc làm và tài chính đều là những tác nhân đưa đến stress.