Đặt vấn đề Thiên nhiên nhiệt đới Việt Nam đã tạo ra hệ thực vật đa dạng, đa lợi ích. Với hơn 19 triệu hecta rừng và đất rừng hệ thực vật này là 1 tiềm năng to lớn cho sự phát triển của đất nước, thể hiện rõ lợi thế của ngành lâm nghiệp so với nhiều ngành sản xuất khác. Trong tập đoàn các loài cây đa mục đích đã được định danh ở Việt Nam, cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylum (Jack.) Meisn) là loài cây có triển vọng đem lại giá trị kinh tế cao trong tương lai, đặc biệt cho những người dân nghèo sống ở vùng núi. Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ, gốc rễ dùng để sản xuất tinh dầu xá xị.
Ngoài ra, việc chưng cất tinh dầu Re hương đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường sinh thái trong khu vực và gây phức tạp cho công tác quản lí bảo vệ rừng. Mặc dù có giá trị kinh tế và bảo tồn cao như vậy, nhưng những nghiên cứu về loài cây này ở trên Thế giới và ở Việt Nam hiện nay còn rất thiếu. Phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở mức mô tả đặc điểm hình thái, định danh loài, mà chưa đi sâu nghiên cứu nhiều về đặc tính sinh học, sinh thái học, gây trồng và bảo tồn loài. Vì thế, việc trang bị kiến thức về bảo tồn và phát triển loài cây Re hương là một việc làm cấp thiết.
Để bảo vệ và phát triển bền vững loài cây Re hương thì việc tìm hiểu khai thác thực trạng, sử dụng loài cây này là cần thiết. Trong một vài năm gần đây thực trạng khai thác loài cây Re hương trên địa bàn huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa diễn ra rất mạnh gây ảnh hưởng đến khả năng tái sinh và phát triển của loài Re hương. Vì vậy tôi thực hiện đề tài: “Thực trạng khai thác và sử dụng cây Re hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và huyện Định Hóa tỉnh Thái Nguyên”. Mục tiêu của đề tài - Xác định được thực trạng của loài cây Re hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa tỉnh Thái Nguyên.
2 - Xác định được thực trạng khai thác cây Re hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. - Xác định được tình hình sử dụng cây Re hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. - Dựa trên kết quả nghiên cứu, đề xuất các biện pháp bảo tồn và phát triển loài cây Re hương tại huyện Phú Lương, Đại Từ và Định Hóa tỉnh Thái Nguyên. Tính cấp thiết của đề tài Ý nghĩa trong học tập và trong nghiên cứu khoa học Thực hiện đề tài củng cố phương pháp nghiên cứu khoa học cho sinh viên và giúp cho sinh viên có cơ hội thực hành bài học ngoài thực địa, củng cố các kiến thức đã học, vận dụng các lí thuyết vào thực tế, nâng cao khả năng thu thập, tích lũy, phân tích, xử lí thông tin hiệu quả, đồng thời củng cố kĩ năng giao tiếp, tiếp cận và làm việc với cộng đồng, người dân.
Ỹ nghĩa trong thực tiễn sản xuất Đề tài đánh giá được thực trạng khai thác, sử dụng loài Re hương và đề xuất giải pháp hạn chế tình hình khai thác. Bảo tồn và phát triển loài Re hương có giá trị. 3 Phần 2 TỔNG QUAN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở khoa học Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau làm cho nguồn tài nguyên ĐDSH của Việt Nam đã và đang bị suy giảm.
Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều Taxon loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng trong một tương lai gần. Để khắc phục tình trạng trên Chính phủ Việt Nam đã đề ra biện pháp, cùng với các chính sách kèm theo nhằm bảo vệ tốt hơn tài nguyên ĐDSH của đất nước. Tuy nhiên, thực tế đang đặt ra nhiều vấn đề liên quan đến bảo tồn ĐDSH cần phải giải quyết như quan hệ giữa bảo tồn loài và phát triển bền vững hoặc tác động của biến đổi khí hậu đối với bảo tồn ĐDSH…vv. Căn cứ vào phân cấp bảo tồn loài và ĐDSH thì trong đó Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack.) thuộc họ Long não (Lauraceae) là một loài cây quý, đa tác dụng.
Hiện tại nó được xếp vào loại rất nguy cấp (CR) ở cấp quốc gia trong danh lục đỏ IUCN (Ver 2.3) và trong sách đỏ Việt Nam (1996). Đây là loài cây có giá trị kinh tế, thân gỗ dùng cho chế biến các sản phẩm mỹ nghệ, gốc rễ dùng để sản xuất tinh dầu xá xị. Hiện nay thì cây Re hương được sử dụng theo 3 dạng khác nhau là sử dụng trong cuộc sống hàng ngày, sử dụng trong nghiên cứu khoa học, sử dụng cho môi trường và sinh cảnh. Trong cuộc sống hàng ngày thì cây Re hương được sử dụng làm lũa, làm vật liệu xây dựng, làm đồ thủ công mỹ nghệ và đồ trang trí nội thất trong gia đình.
Hiện này các nhà nghiên cứu trên thế giới và Việt Nam đang nghiên cứu loài cây này như thực hiện các dự án về bảo tồn, giâm hom phát triển cây. Ngoài ra cây còn được sử dụng cho môi trường như tạo bóng mát và làm tăng sự đa dạng cho sinh cảnh. Do có giá trị kinh tế cao nên hiện nay hoạt 4 động khai thác trái phép cây này ở Việt Nam đang là một điểm nóng (Lê Trọng Trái và cộng tác viên, 1999) [14]. Đây là cơ sở khoa học giúp tôi tiến đến nghiên cứu và thực hiện khóa luận.
Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 2. Tình hình nghiên cứu trong nước Cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) là cây đa tác dụng và có phân bố rộng ở một số tỉnh phía Bắc và Trung bộ Việt Nam như: Cao Bằng, Lạng Sơn, Bắc Kạn, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Vĩnh Phúc, Bắc Giang, Quảng Ninh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng, Lâm Đồng. Ngoài giá trị cho gỗ dùng trong xây dựng, làm tà vẹt và đóng đồ, các bộ phận của cây còn được chưng cất tinh dầu dùng làm thuốc xoa bóp, chữa thấp khớp, đau nhức và được sử dụng rộng rãi trong công nghệ hoá mỹ phẩm, thực phẩm, dược phẩm (Lã Đình Mỡi, 2001) [10]. Tinh dầu chứa trong hầu hết các bộ phận của cây.
Song người ta thường khai thác gỗ thân và rễ làm nguyên liệu chưng cất tinh dầu. Tình trạng khai thác bừa bãi gỗ và rễ Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) để cất tinh dầu ở khắp các địa phương trong cả nước làm cho loài cây này đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng. Hiện nay, Re hương được cấp báo trong Nghị định 32/2006/NĐ-CP thuộc nhóm IIA hạn chế khai thác, sử dụng vì mục đích thương mại và trong Sách Đỏ Việt Nam (Bộ Khoa học và công nghệ, 2007) [2], phân hạng cực kỳ nguy cấp CR A1a,c,d. Vì vậy nghiên cứu kĩ thuật nhân giống cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylon), có ý nghĩa thực tiễn to lớn, làm cơ sở cho công tác bảo tồn và phát triển nguồn gen cây quý hiếm và làm giàu rừng ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam (Phùng Văn Phê, 2012) [12].
Re hương (Cinnamomum parthenoxylon ) là một trong những loài cây đang có nguy cơ bị tuyệt chủng nên cần được ưu tiên nghiên cứu bảo tồn và phát triển nguồn gen quý hiếm này. Qua kết quả nghiên cứu về “Ảnh hưởng 5 của chất điều hòa sinh trưởng IBA (indol butyric acid) đến khả năng ra rễ trong giâm hom cây Re hương phục vụ bảo tồn và phát triển nguồn gen ở vườn quốc gia Bạch Mã”. Đồng thời, khuyến khích nhân dân trồng cây phân tán, tập trung ở vùng đệm nhằm cải thiện cơ cấu cây trồng bản địa, tăng thêm loài cây trồng đa mục đích góp phần phát triển kinh tế xã hội, xóa đói giảm nghèo theo chương trình phát triển kinh tế vùng đệm của các vườn quốc gia, khu bảo tồn ở Việt Nam, những nơi có điều kiện sinh thái phân bố tự nhiên loài này (Huỳnh Văn Kéo & cs, 2007) [9]. Re hương khó thu hạt và hạt giống có tỷ lệ nảy mầm thấp nên giâm hom là biện pháp nhân giống hiệu quả hơn trong việc nhân giống phục vụ bảo tồn cũng như trồng rừng diện tích lớn sau này (Nguyễn Hoàng Nghĩa & cs, 2009) [16].
Cây Re hương (Cinnamomum parthenoxylon) là một loài cây quý, đa tác dụng. Do có giá trị kinh tế cao nên loài cây này hiện đã bị khai thác một cách kiệt quệ. Thêm vào đó, số lượng cây tái sinh tự nhiên của Re hương rất ít nên vấn đề bảo tồn loài là rất cần thiết (Lê Thị Diên & cs, 2010) [5]. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Re hương (Cinnamomum parthenoxylon (Jack) Meisn).
Tên đồng nghĩa: Laurus parthenoxylon Jack, 1820; Laurus porRecte Roxb. 1832; Sassafras parthenoxylon (Jack) Nees, 1836; Cinnamomum simondii Lecomte, 1913; Cinnamomum porRectum (Roxb. Hay còn gọi là Co chấu, Re dầu, Vù hương, Xá xị, thuộc họ Long não (Lauraceae). Phân bố ở: Cây có vùng phân bố rộng, SingapoRe, Indonesia, Myanmar, Ấn Độ.
Loài có nguồn gen hiếm, gỗ tốt không mối mọt, dùng trong xây dựng, làm tà vẹt, đóng tàu, lá, vỏ và rễ có thể chiết tinh dầu. Ở Trung Quốc, rễ, thân cây Re hương dùng trị cúm, cảm mạo, ăn uống không tiêu bụng đầy trướng, đau dạ dày, viêm khớp do phong thấp, tiêu hóa không bình thường, ho gà, lỵ. Tại Malaysia, người ta dùng gỗ cây làm thuốc bổ cho các em gái lúc tuổi dậy thì. Tại Giava, người ta dùng tinh dầu xoa bóp chữa thấp khớp, đau nhức.
6 Theo những tài liệu được công bố về công thức cao nước xá xị thì thành phần chính trong nước xá xị là cao thổ phục linh, cao cam thảo được dùng làm chất thơm với một tỷ lệ rất thấp salixylat metyl, tinh dầu tiểu hồi, tinh dầu Sassafras. Tinh dầu sassafras được cất từ vỏ thân và vỏ rễ cùng gỗ thân và gỗ rễ cây Sassafras officinalis, chưa thấy ở nước ta. Hàm lượng tinh dầu trong vỏ lên tới 6%, còn trong gỗ chỉ có 2%. Tinh dầu rất lỏng, nặng hơn nước (tỷ trọng 1,070-1,076, chứa tới 80% safrol ête metylenic của allylpyrocatechin) kèm theo pinen, phellandRen, một ít eugenol và long não.
Tại các nước châu Âu và châu Mỹ, Sassafras được dùng làm thuốc ra mồ hôi, chữa thống phong, phong thấp. Tinh dầu được làm hương cho xà phòng thơm rẻ tiền và làm nguyên liệu chiết safrol. Từ safrol oxy hóa bằng kali permanganat sẽ được ête metylic của aldehyt protpcatechic có mùi heliotrope dùng trong hương liệu với tên heliotropin hay piperonal. Điều kiện cơ sở của địa phương 2.
Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 2.