CHƯƠNG 1 CỞ SỞ LÝ LUẬN VÈ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG TIÈN GỬI TIÉT KIỆM TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tống quan về ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường 1. Khái niệm về ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại (NHTM) là định chế tài chính trung gian đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Ngân hàng có lịch sử ra đời rất lâu, 3000 năm trước công nguyên.
Từ nghề đổi tiền của một so thương nhân dần dần hình thành nên các tổ chức nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền, thanh toán. hoạt động như các NHTM. Cùng với sự phát triền của nền kinh te thị trường theo xu hướng hội nhập quốc tế hiện nay, các NHTM không ngừng phát triển hình thành mạng lưới ròng khắp toàn cầu, hoạt động ngân hàng có tính hệ thống cao, được xem như một kênh chu chuyến vốn quan trọng và cung ứng dịch vụ tài chính ngày càng đa dạng và phong phú tác động đáng ke đến sự phát triển của nền kinh tế thị trường. Khái niệm về ngân hàng thương mại ở Việt Nam: là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, với hoạt động thường xuyên là nhận tiền gửi dưới nhiều hình thức khác nhau và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán cho các chủ the trong nền kinh tế, nhằm mục tiêu lợi nhuận.
Ngán hàng thương mại có một số đặc điểm như sau: Một là: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp kinh doanh kiếm lời cho nên hoạt động cùa nó nhằm mục đích chủ yếu là theo đuối lợi nhuận. Hoạt động kinh doanh của NHTM là một loại hình kinh doanh đặc thù với chất liệu kinh doanh chủ yếu là quyền sử dụng các khoản tiền, sản phẩm của NHTM có đặc tính phi vật chất, hoạt động của nó gắn liền với quá trình vận động và lưu thông tiền tệ. Hai là: Hoạt động của ngân hàng thương mại là hình thức kinh doanh có độ rủi ro cao hơn so với các hình thức kinh doanh khác và thường có ảnh hưởng sâu sắc, liên quan đến các nghành khác và cả nền kinh tế. Do đó, đe tránh rủi ro đáng tiếc xảy ra, nhằm kiểm soát và làm giảm nhẹ nhừng tổn hại do ngân hàng vỡ nợ gây ra, các 1 quốc gia đã đặt ra những đạo luật riêng nhằm đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng đuợc vận hành hiệu quả và an toàn.
Ba là: Ngân hàng thương mại là một trung gian giữa những người có vốn và người cần vốn. Ngân hàng thương mại là trung gian giữa NHTW (Ngân Hàng Trung Ương) với công chúng và cả nền kinh tế. Chức năng của ngân hàng thương mại 1. Trung gian tài chính Trung gian tài chính là chức năng quan trọng nhất của NHTM, quyết định sự phát trien và mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Trong chức năng này NHTM đóng vai trò là một định chế tài chính trung gian đứng ra tập trung nguồn vốn tạm thời nhàn rồi từ các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế để điều chuyển cho các tổ chức và cá nhân có nhu cầu về vốn, góp phần đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn, góp phần điều tiết nguồn vốn cho nền kinh tế. Mặc khác, NHTM cũng là một chủ the tham gia trên thị trường tài chính bằng các hoạt động đầu tư sinh lời, cung cấp các dịch vụ tài chính khác cho các chủ the trong nền kinh tế, như vậy NHTM cũng là một trong những chủ thể tham gia vào việc phân phối tài chính cho nền kinh tế. Trung gian thanh toán NHTM là người quản lý tiền trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng, do đó NHTM thực hiện được chức năng trung gian thanh toán cho khách hàng. Trong chức năng này, NHTM đóng vai trò là một tố chức trung gian thực hiện việc thanh toán, chi trả thay cho những khách hàng có nhu cầu thanh toán qua ngân hàng theo sự ủy nhiệm của khách hàng.
Đê thực hiện chức năng này, NHTM phải tô chức mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng, phát hành và quản lý các phương tiện thanh toán, to chức thực hiện thanh toán khi nhận được lệnh thanh toán cùa khách hàng. Chức năng trung gian thanh toán mang lại sự tiện lợi cho khách hàng trong hoạt động thanh toán đồng thời góp phần thu hút lượng tiền nhàn rồi trong nền kinh tế, nâng cao uy tín thương hiệu ngân hàng trên thị trường. Tạo tiền Trong chức năng này đòi hỏi phải có sự tham gia của nhiều ngân hàng, và nhiều khách hàng. Khi kết hợp chức năng trung gian tín dụng và chức năng trung gian thanh toán, NHTM có khả năng tạo ra một lượng tiền trên tài khoản tiền gừi thanh toán của khách hàng lớn hơn gấp nhiều lần so với lượng tiền gửi ban đầu.
Lượng tiền NHTM tạo ra phụ thuộc vào số tiền gửi ban đầu của khách hàng, số luợng ngân hàng tham gia vào quá trình tạo tiền và tỷ lệ dự trừ bắt buộc. Trên thực tế khó có the phủ nhận được khả năng tạo tiền của NHTM, nhưng để tính toán được một tỷ lệ tạo tiền chính xác và khả năng tạo tiền ở mức tối đa, thì khó có the xác định được. Vì hoạt động của NHTM chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố và đặc biệt khi môi trường kinh tế thay đổi hoặc trước những điều chỉnh của việc điều hành chính sách tiền tệ của ngân hàng trung ương sè gây tác động đáng kể đến tình hình huy động vốn và cho vay của NHTM, điều này sè làm thay đổi khả năng tạo tiền của NHTM. Ngày nay trong kỳ thuật quản trị ngân hàng, ứng dụng khả năng tạo tiền được xem như là nghệ thuật trong việc kiếm soát khả năng cung ứng tiền trong lưu thông góp phần on định lưu thông tiền tệ.
Vai trò cua ngân hàng thương mại Điều tiết nguồn von, góp phần nâng cao hiệu quá sử dụng von cho nền kinh tế. Nhờ hoạt động của MHTM mà nguồn vốn nhàn rồi trong nền kinh tế được tập hợp lại thành nguồn vốn lớn phục vụ cho đời sống xã hội và phát triển kinh tế. NHTM trở thành kênh chu chuyến vốn quan trọng trong nền kinh tế, cung ứng vốn cho các chủ thể trong nền kinh tế, góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Tạo điều kiện thúc đẩy thị trường tài chỉnh phát triển: hoạt động của NHTM vừa mang tính cạnh tranh nhưng cũng vừa có tác động hồ tương đến các hoạt động khác trong lình vực tài chính như: thị trường chứng khoán, bảo hiểm.
Khi NHTM ngày càng phát triển và hoàn thiện thì càng có nhiều dịch vụ hồ trợ cho các hoạt động trên. Ngược lại, sự phát triển phong phú và đa dạng của các sản phẩm trên thị trường tài chính sẽ tác động đen sự phát triên của các sản phẩm kinh doanh của NHTM ngày càng phát triển, xuất hiện sự kết hợp và bán chéo sản phẩm của NHTM với các định 3 chế tài chính khác như: công ty bảo hiểm, công ty chứng khoán, công ty tài chính và quỳ đầu tư. góp phần gia tăng doanh số giao dịch trên thị trường tài chính. Góp phần thực thi chỉnh sách tiền tệ quốc gia: ngân hàng trung ương là cơ quan xây dựng và điều hành chính sách tiền tệ, nhưng để thực thi ngân hàng trung ương phải sử dụng các công cụ như: dự trừ bắt buộc, lãi suất, tái cấp vốn, thị trường mở.
tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của NHTM, thay đổi tăng hoặc giảm khối lượng tiền tệ trong nền kinh tế, góp phần bình on lưu thông tiền tệ của quốc gia, kiểm soát lạm phát. Cơ sở lý luận về huy động tiền gửi tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm và ý nghĩa tiền gửi tiết kiệm Tiền gửi tiết kiệm là một dạng hình thức đầu tư tại các ngân hàng rất phổ biến hiện nay. Tiền gửi tiết kiệm được đánh giá là an toàn và ít rủi ro vì vậy được đông đảo người dân tin tưởng và lựa chọn.
Tiền gửi chính là toàn bộ khoản tiền mà khách hàng gửi vào trong ngân hàng đe hưởng lãi hay sử dụng các dịch vụ tiện ích cùa ngân hàng. Tiền gửi tiết kiệm là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên thẻ tiết kiệm, được hưởng lãi theo quy định của tố chức nhận tiền gửi tiết kiệm và được bảo hiểm theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi. Chù nhân của các khoản tiền gửi tiết kiệm thường là cá nhân, họ gửi vào ngân hàng các khoản thu nhập chưa sử dụng trong kỳ hiện tại, không vì mục đích giao dịch mà vì nhu cầu tiết kiệm đe tiêu dùng trong tương lai. Việc đáp ứng nhu cầu rút tiền cũng có thể được thiết kế theo những kỳ thuật khác nhau, về nguyên tắc, người gửi tiết kiệm có quyền rút tiền khi đến hạn nếu là tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn.
Tuy nhiên nếu là tiền tiết kiệm không kỳ hạn thì người gửi được rút theo yêu cầu và ngân hàng có the thanh toán trong một khoảng thời gian tương đối ngắn. Neu căn cứ vào mục đích cùa người gửi, tiền gửi tiết kiệm chia thành: + An toàn, tích lũy. Neu căn cứ vào thời hạn, tiền gửi tiết kiệm chia thành: + Tiền gửi không kỳ hạn. + Tiền gửi có kỳ hạn.
4 Đối với ngân hàng, tiền gửi tiết kiệm là nguồn vốn khá ốn định, cho phép ngân hàng chủ động trong việc đầu tư chúng vào các kế hoạch sinh lời. Tuy nhiên, ngân hàng phải chịu các khoản phí tương tự như tiền gửi không kỳ hạn, song tiền lãi mà ngân hàng trả cho tiền gửi tiết kiệm thường cao hơn. Đặc điểm của tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân Tiền gửi tiết kiệm khách hàng cá nhân đóng vai trò quan trọng trong hoạt động huy động von của NHTM. Tiền gửi tiết kiệm là đối tượng phải được dự trừ bắt buộc, ngân hàng phải mua bảo hiểm tiền gửi tiết kiệm.
TGTK là nguồn vốn tương đối ổn định, phát triển với tiềm tàng lớn từ nguồn tiền trong dân. Đối với TGTK có kỳ hạn, trong suốt thời gian gửi khách hàng không được nộp thêm tiền vào so tiết kiệm đã gửi. TGTK là nguồn vốn khá nhạy cảm với lãi suất, đặc biệt là vốn ngắn hạn. Nguồn thu nhập, thói quen tiêu dùng và xu hướng tiết kiệm của người dân ảnh hưởng đến quy mô và thời hạn của tiền gửi tiết kiệm.