CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN Đái tháo đường là một bệnh mạn tính với rối loạn chuyển hóa. Bệnh đái tháo đường type 2 là không sản xuất đủ lượng Insulin hay những cơ quan ngoại vi không sử dụng insulin hợp lý. ĐTĐ type 2 liên quan chặt chẽ với lối sống ít vận động và bệnh béo phì [24].
Tình hình đái tháo đường trên thế giới và Việt Nam 1. Tình hình đái tháo đường trên thế giới Vào những năm cuối thế kỷ 20 và những năm đầu thế kỷ 21, các chuyên gia của WHO đã dự báo "Thế kỷ 21 sẽ là thế kỷ của các bệnh Nội tiết và rối loạn chuyển hoá, đặc biệt bệnh ĐTĐ sẽ là bệnh không lây phát triển nhanh nhất". Tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ đang gia tăng nhanh chóng trên toàn cầu, nó kéo theo những hậu quả nghiêm trọng về sức khỏe và kinh tế đối với toàn xã hội. Kết quả nghiên cứu của tác giả David R và cộng sự 2011: Thu thập nguồn dữ liệu từ năm 1980 đến tháng 4 năm 2011.
Tổng cộng có 565 nguồn số liệu đã được xem xét trong đó có 170 nguồn từ 110 quốc gia được lựa chọn. Trong năm 2011, có 366 triệu người ĐTĐ tuổi từ 2079, dự kiến sẽ tăng đến 552 triệu vào năm 2030 [24]. Điều đáng quan tâm là tỷ lệ mắc bệnh gặp nhiều ở các nước có thu nhập từ thấp đến trung bình với 2/3 trường hợp ĐTĐ xảy ra ở những nước có thu nhập từ thấp đến trung bình. ĐTĐ là nguyên nhân gây tử vong đứng hàng thứ 4 trên thế giới, gây giảm tuổi thọ trung bình từ 5 đến 10 năm, là nguyên nhân hàng đầu gây mù loà và suy thận giai đoạn cuối, nguyên nhân hàng đầu của cắt cụt chi không do chấn thương.
Cứ 10 giây lại có một người chết do nguyên nhân ĐTĐ và các biến chứng; cứ 30 giây lại có một người ĐTĐ có biến chứng bàn chân bị cắt cụt chi. Chi phí cho điều trị ĐTĐ của toàn thế giới năm 2007 ước tính 232 ngàn tỷ đô la Mỹ, dự báo tăng lên 302 ngàn tỷ vào năm 2025 [4] [61]. Bệnh ĐTĐ tăng nhanh nhất ở các nước có tốc độ phát triển nhanh như Ấn Độ, Trung Quốc. Do quá trình đô thị hóa, tiêu thụ thực phẩm giàu năng lượng, có lối sống ít vận động nên số người bị ĐTĐ càng gia tăng trong khi tuổi chẩn đoán ĐTĐ giảm đi.
5 Tỷ lệ ĐTĐ tại các nước thuộc khu vực Đông Nam Á cũng tương đối cao. Tại Philippine, kết quả điều tra quốc gia năm 2008 cho thấy tỷ lệ ĐTĐ là 7,2%, suy giảm dung nạp glucose: 6,5% và rối loạn glucose máu lúc đói: 2,1%. Tỷ lệ ĐTĐ khu vực thành thị là 8,3% và khu vực nông thôn là 5,8% [22].Theo kết quả điều tra năm 2008, tỷ lệ ĐTĐ tại Indonesia là 5,7%, tỷ lệ suy giảm dung nạp glucose là 10,2% ở lứa tuổi trên 15 tuổi [17]. Tình hình đái tháo đường tại Việt Nam: Tại Việt Nam ĐTĐ đang có chiều hướng gia tăng theo thời gian và theo mức độ phát triển kinh tế cũng như đô thị hóa, đã tác động đến những thay đổi về lối sống theo chiều hướng không có lợi cho sức khỏe, chủ yếu là dinh dưỡng không hợp lý, ít hoạt động thể lực khiến cho tốc độ mắc bệnh đái tháo đường ở nước ta gia tăng nhanh chóng.
Năm 2002, Bệnh viện Nội tiết Trung Ương tiến hành điều tra toàn quốc về ĐTĐ và yếu tố nguy cơ, trên 9.122 người thuộc 90 phường xã, khu vực Tây nguyên với 1833 đối tượng, đồng bằng 2722 đối tượng, thành phố là 2. Người mắc bệnh ĐTĐ type 2 đã tăng gần gấp 3 lần so với 10 năm trước [2]. Năm 2001, điều tra dịch tễ học bệnh ĐTĐ theo chuẩn quốc tế mới với sự giúp đỡ của các chuyên gia hàng đầu của WHO, được tiến hành ở 4 thành phố: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh. Kết quả điều tra này thực sự là tiếng chuông cảnh báo về tình trạng bệnh ĐTĐ nói riêng và bệnh không lây nói chung ở Việt Nam, đó là tỷ lệ mắc bệnh ĐTĐ tại 4 thành phố lớn Hà Nội, TP.
HCM, Hải Phòng và Đà Nẵng ở đối tượng lứa tuổi 3064 tuổi là 4,9%, rối loạn dung nạp Glucose máu là 5.9% tỷ lệ rối loạn glucose máu đói là 2,8%, tỷ lệđối tượng có yếu tố nguy cơ bệnh ĐTĐ là 38,5 [1]. Từ năm 2003 đến năm 2009 có nhiều công trình điều tra dịch tễ học ĐTĐ trong nước trên nhiều tỉnh thành cho nhiều kết quả khác nhau. Theo điều tra ĐTĐ toàn quốc cuối năm 2008, tỷ lệ mắc ĐTĐ tăng gần gấp đôi năm 2002 (5,0% so với 2,7%) và tỷ lệ này tăng nhanh ở các thành phố lớn (4,0% năm 2000 so với 7,2% 6 năm 2008) [3]. Tại Trà Vinh, nghiên cứu năm 2004 cho kết quả tỷ lệ bệnh đái tháo đường ở người trên 35 tuổi là 3,7% [9].
Tự chăm sóc ở người bệnh đái tháo đường type 2 Tự chăm sóc là một khái niệm đa chiều và có định nghĩa khác nhau. Trong số các định nghĩa, định nghĩa của Orem là nhất quán hơn. Orem (1995) lập luận rằng, tự chăm sóc là một hoạt động cá nhân để chăm sóc, duy trì sức khỏe của chính họ và phòng ngừa biến chứng bệnh liên quan đến bệnh. Điều này có thể được thực hiện thông qua việc quản lý và duy trì thực hiện lối sống lành mạnh trong các lĩnh vực của hoạt động thể lực, dinh dưỡng, sử dụng thuốc và kiểm soát.
Cùng với điều này, Orem mô tả tự chăm sóc là khả năng của mình để tự đánh giá, giám sát và đưa ra quyết định cho các tình huống trong cuộc sống của bản thân họ. Tự chăm sóc là một quá trình liên tục. Hiệp hội đái tháo đường của Mỹ, 2013 báo cáo rằng, các thay đổi lối sống ở người bệnh đái tháo đường có thể là một cách hiệu quả để đạt được các mục tiêu kiểm soát đường máu và ngăn ngừa biến chứng bệnh ĐTĐ. Tự chăm sóc ở bệnh đái tháo đường như là điều chỉnh chế độ dinh dưỡng, hoạt động thể lực, kiểm soát lượng đường huyết, chăm sóc bàn chân, và uống thuốc hoặc tiêm insulin như sau: Chế độ ăn kiêng Kiểm soát chế độ ăn uống là một phần quan trọng trong việc chăm sóc bệnh ĐTĐ.
Đó là điều chỉnh các thành phần dinh dưỡng có lợi cho sức khỏe: Cải thiện chế độ ăn, kiểm soát glucose huyết, lipid, ổn định huyết áp, và giảm cân hoặc duy trì cân nặng. Khẩu phần ăn của bệnh đái tháo đường nên điều chỉnh carbonhydrate, protein và chất béo. Carbohydrate: Carbohydrate là bất kỳ một nhóm lớn các hợp chất hữu cơ xảy ra trong thực phẩm và các mô sống và bao gồm các loại đường, tinh bột và cellulose (là thành phần chính của tế bào thực vật). Người có bệnh ĐTĐ type 2 nên giảm 40 60% carbohydrate / tổng số năng lượng, với > 40 g chất xơ mỗi ngày (hoặc 20 g / 1000 kcal / ngày) [42].
7 Đường: Đường gồm monosacarit (glucose, fructose, galactose), disaccharides (sucrose, lactose, maltose), và rượu đường (sorbitol, mannitol, lactitol, xylitol, erythritol, isomalt, maltitol). Đường có mặt tại nhiều trong thực phẩm tự nhiên như trái cây, sữa, mật ong, và mật mía. Nó cũng được tìm thấy trong ngũ cốc, sữa chua, kẹo và món tráng miệng. Glucose trong máu sẽ tăng nếu đường tăng sự hấp thu.
Vì vậy, bệnh nhân ĐTĐ nên hạn chế các loại đường hàng ngày. Tinh bột: Tinh bột trong gạo, ngô, khoai tây, lúa mì, bánh mì, ngũ cốc, mì ống, đậu khô, tức là tinh bột làm tăng glucoze trong máu nhiều hơn các loại đường, do đó bệnh nhân cũng cần phải giảm lượng tinh bột. Protein: Bệnh nhân ĐTĐ nên gảm 1020% protein trong lượng calo tiêu thụ (0,8 / kg / ngày) [42]. Các loại thực phẩm protein như thịt nạc, thịt gà, gà tây, thịt hay cá, cũng như ít béo hoặc không béo sản phẩm nên ăn mỗi ngày [44].
Chất béo: Đó là bất kỳ của một nhóm các este của glycerol tự nhiên và các axit béo khác nhau, nó tồn tại thể rắn ở nhiệt độ phòng và là thành phần chính của động vật và chất béo thực vật. Những bệnh nhân ĐTĐ nên ăn kiêng các chất béo và điều chỉnh 2035% tổng năng lượng nạp vào. Bệnh nhân tiểu đừơng nên ăn ít hơn 7% lượng calo từ chất béo bão hòa (khoảng 15 gam chất béo bão hòa trong một ngày), bão hòa cộng với acid béo transunsaturated: <10% tổng số năng lượng, <8% nếu mật độ thấp lipoprotein cholesterol tăng lên. Và các axit béo không bão hòa khoảng 610% tổng năng lượng, 1020% tổng năng lượng của các axit béo không bão hòa đơn.
Cholesterol từ thức ăn có thể làm tăng cholesterol trong máu, do đó, nó là một ý tưởng tốt để ăn ít hơn 200 mg mỗi ngày [42] Hoạt động thể lực Hoạt động thể lực có một vai trò quan trọng trong việc cải thiện việc cơ thể đáp ứng với insulin, điều chỉnh lượng đường trong máu, liên quan tới giảm nguy cơ tử vong và bệnh tim mạch, biến chứng ở những người có bệnh ĐTĐ type 2 [35] Hiệp hội đái tháo đường của Mỹ, 2013 khuyến cáo rằng, người lớn bị bệnh đái tháo đường type 2 nên thực hiện ít nhất 30 phút/ ngày và ít nhất 3 ngày/ tuần, 8 không được nghỉ tập quá 2 ngày. Theo Dasvila, 2010 tập thể dục là một phần của hoạt động thể lực. Vì vậy, đóng góp lớn đối với hoạt động thể lực chính là hình thức tập thể dục, thể thao, đi bộ, đi xe đạp, leo cầu thang, chạy, nhảy, bơi lội, yoga… 1. Các thao tác thêm mỗi ngày là tất cả các hoạt động hàng ngày mà có thể được thực hiện bởi mỗi cá nhân, chẳng hạn như đi bộ xung quanh nhà, chơi với con, làm việc nhà, lau chùi sàn nhà, hoặc rửa xe.
Tập Aerobic là hoạt động mà đòi hỏi việc sử dụng các cơ bắp lớn và làm cho tim đập nhanh hơn. Các chuyên gia khuyên bệnh nhân nên làm bài tập aerobic 30 phút mỗi ngày ít nhất 5 ngày một tuần, nó sẽ cung cấp nhiều lợi ích. Tập tạ là một loại hình tập thể dục chuyên trong việc sử dụng kháng lực để gây co cơ trong đó xây dựng sức mạnh, sức bền yếm khí, và kích thước của các cơ xương. Khi cơ thể có cơ bắp hơn ít chất béo, cơ thể sẽ đốt cháy calo vì cơ bắp đốt cháy nhiều hơn chất béo, thậm chí giữa các buổi tập thể dục.
Nó sẽ giúp cơ thể khỏe mạnh có thể giúp cho công việc hàng ngày dễ dàng hơn, cải thiện sự cân bằng và phối hợp, cũng như cải thiện xương, khớp. Đi bộ là loại hình phổ biến và dễ thực hiện nhất, nó thích hợp cho hầu hết bệnh nhân đái tháo đường.