CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG 1. Cơ sở lý luận về hoạt động ngoại thương 1. Quan niệm về ngoại thương Theo định nghĩa cơ bản, ngoại thương là hoạt động lưu thông hàng hóa vượt ra khỏi phạm vi quốc gia. Định nghĩa hoạt động ngoại thương được quy định tại Khoản 1 Điều 3 Luật Quản lý ngoại thương 2017 (có hiệu lực 01/01/2018), theo đó: “ Hoạt động ngoại thương là hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập, tái xuất; tạm xuất, tái nhập; chuyển khẩu; quá cảnh và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế theo quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên.” Hiện nay, khái niệm phổ biến nhất là khái niệm của UNCTAD (Hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển): Ngoại thương được hiểu theo nghĩa rất rộng, bao gồm mọi hoạt động kinh doanh trên thị trường quốc tế, từ thương mại hữu hình (liên quan đến hàng hóa, bao gồm hàng sơ chế có hàm lượng công nghệ thấp và hàng tinh chế có hàm lượng công nghệ cao), đến thương mại vô hình (liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ như phát minh, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, quyền tác giả, thương hiệu.) và thương mại dịch vụ (như tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông, du lịch, y tế, giáo dục.) Nội dung của ngoại thương rất đa dạng, phong phú, với nhiều hình thức hoạt động khác nhau khác nhau.
Những hoạt động ngoại thương chính bao gồm: Xuất và nhập khẩu hàng hóa hữu hình (nguyên, nhiên liệu, vật liệu, máy ’ móc thiết bị, lương thực thực phẩm, hàng tiêu dùng.) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập khẩu ủy thác. 7 Xuất và nhập khẩu hàng hóa vô hình (các bí quyết công nghệ, bằng sáng ’ chế, phát minh, phần mềm máy tính, quyền tác giả, độc quyền nhãn hiệu, thương hiệu.) thông qua xuất nhập khẩu trực tiếp hoặc xuất nhập khẩu ủy thác. Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công. Hoạt động ’ gia công mang tính chất công nghiệp nhưng chu kì gia công thường ngắn, có đầu vào và đầu ra gắn liền với thị trường nước ngoài, nên nó được coi là một bộ phận của hoạt động ngoại thương.
Tái xuất khẩu và chuyển khẩu: Trong hoạt động tái xuất khẩu người ta tiến hành nhập khẩu tạm thời hàng hóa từ bên ngoài vào sau đó lại xuất khẩu sang một nước thứ ba với điều kiện hàng hóa đó không qua gia công, chế biến. ’ Còn hoạt động chuyển khẩu không có hành vi mua bán mà ở đây chỉ thực hiện dịch vụ như: vận tải quá cảnh, lưu kho, lưu bãi, bảo quản hàng hóa. Xuất khẩu tại chỗ: Trong trường hợp này, hàng hóa, dịch vụ có thể chưa ’ vượt ra ngoài biên giới quốc gia nhưng ý nghĩa kinh tế của nó tương tự như ’ hoạt động xuất khẩu. Đó là việc cung cấp hàng hóa và dịch vụ cho các ngoại giao đoàn, cho khách du lịch quốc tế.
Trong các loại hình hoạt động ngoại thương nêu trên, xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ là hoạt động diễn ra sôi nổi nhất và có vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy quan hệ quốc tế hiện nay. Xuất khẩu là việc bán hàng và dịch vụ ra bên ngoài; gồm hai loại hình: xuất khẩu hàng hóa (còn gọi là xuất khẩu hữu hình), xuất khẩu dịch vụ (còn gọi ’ là xuất khẩu vô hình). Hàng hóa xuất khẩu là hàng hóa có xuất xứ trong nước và hàng tái xuất, được đưa ra nước ngoài, đưa vào kho ngoại quan hoặc đưa vào khu mậu dịch tự do, trong số đó: Hàng hóa xuất xứ trong nước là hàng hóa được khai thác, sản xuất, chế biến, trong nước theo quy tắc xuất xứ của quốc gia đó, kể cả sản phẩm hoàn trả của nước ngoài sau khi gia công trong nước. Hàng hóa tái xuất là hàng hóa đã nhập khẩu, sau đó lại xuất khẩu nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, không làm thay đổi tính chất cơ bản của hàng hóa đó.
’ 8 Nhập khẩu là việc mua hàng hoặc dịch vụ từ thị trường nước ngoài. Hàng ’ hóa nhập khẩu là hàng hóa nước ngoài và hàng tái nhập, được mua từ nước ngoài được mua từ kho ngoại quan hoặc đưa từ khu vực tự do vào trong nước, làm tăng nguồn vật chất trong nước, trong số đó: Hàng hóa nước ngoài là hàng hóa có xuất xứ nước ngoài, kể cả sản phẩm hoàn trả sau khi gia công ở nước ngoài. Hàng hóa tái nhập là những hàng hóa đã xuất khẩu ra nước ngoài, sau đó được nhập khẩu trở lại nguyên dạng hoặc chỉ sơ chế, bảo quản, đóng gói lại, ’ tính chất cơ vản của hàng hóa không thay đổi. Cán cân xuất, nhập khẩu là hiệu số giữa giá trị xuất khẩu (còn gọi là kinh ngạch xuất khẩu) và giá trị nhập khẩu (còn gọi là kinh ngạch nhập khẩu).
Trong thống kê thế giới của hội nghị Liên hợp quốc về Thương mại và Phát triển, cán cân thương mại được tính bằng phần trăm giá trị nhập khẩu so với giá trị nhập khẩu B = (X - N) / N x 100 (%). Nếu giá trị hàng xuất khẩu lớn hơn giá trị hàng ’ nhập khẩu gọi là xuất siêu. Ngược lại, nếu trị giá hàng xuất khẩu nhỏ hơn trị giá hàng nhập khẩu gọi là nhập siêu. Giá FOB (Free On Broad) nghĩa là miễn trách nhiệm trên boong tàu nơi đi, hay còn gọi là “Giao trên tàu”.
Giá FOB áp dụng cho hàng hóa xuất, nhập ’ khẩu là giá thị trường tại biên giới hải quan của nền kinh tế từ đó hàng hóa được xuất đi. Giá FOB là giá sử dụng do các nhà nhập khẩu phải trả nếu họ chịu ’ trách nhiệm chuyên chở hàng nhập khẩu sau khi hàng hóa đã xếp vào phương tiện vận chuyển tại cửa khẩu của các nước xuất khẩu. Giá FOB bao gồm các khoản sau đây: phí vận chuyển chuyên chở các hàng hóa tới biên giới hải quan của nước xuất khẩu, phí bốc xếp hàng hóa lên phương tiện vận tải ở biên giới và tất cả các loại thuế trừ đi trợ cấp đánh vào sản phẩm tại nơi xuất khẩu. Nói cách khác, hàng hóa xuất khẩu đánh theo giá FOB là giá sử dụng.’ Giá CIF (Cost, Insurance, Freight) nghĩa là Giá thành, Bảo hiểm và Cước.
’ Đó là giá của hàng hóa nhập khẩu tính tại biên giới hải quan của nước nhập khẩu trước khi đóng bất kỳ loại thuế nhập khẩu hay thuế khác đánh vào hàng nhập khẩu. Hàng nhập khẩu tính theo giá CIF bằng hàng nhập khẩu tính theo 9 giá FOB cộng với phí vận tải và phí bảo hiểm giữa biên giới hải quan của nước xuất khẩu và biên giới hải quan của nước nhập khẩu. Giá CIF của hàng nhập khẩu không bao gồm phí vận tải và phí thương nghiệp để chuyên chở hàng ’ nhập khẩu trong phạm vi của nước nhập khẩu. Vai trò của hoạt động ngoại thương đối với một địa phương Trong điều kiện kinh tế mở, hội nhập và cạnh tranh quốc tế gay gắt như hiện nay, vấn đề mở rộng và phát triển quan hệ quốc tế là một tất yếu đối với bất kì địa phương nào.
Việc phát triển các quan hệ kinh tế đối ngoại nói chung và hoạt động ngoại thương nói riêng có ý nghĩa quan trọng hơn bao giờ hết. Vai trò của hoạt động ngoại thương được thể hiện ở những điểm sau: Thứ nhất, ngoại thương giúp tận dụng được các lợi thế và thúc đẩy sản xuất địa phương phát triển. Hoạt động ngoại thương phát triển giúp các tỉnh khai thác tốt lợi thế riêng của mình, tiến hành trao đổi với các tỉnh khác. Từ sự trao đổi đó tạo nguồn lực ’ mới tác động trở lại, thúc đẩy nền kinh tế địa phương phát triển.
Xuất nhập khẩu tạo ra những tiền đề về kinh tế - kỹ thuật nhằm cải tạo, nâng cao năng lực sản xuất trong tỉnh. Qua hoạt động xuất, nhập khẩu mỗi địa phương có thêm nguồn vốn đầu tư cho sản xuất, có điều kiện hiện đại hóa và mở rộng quy mô sản xuất, tạo ra năng lực sản xuất mới. Đồng thời tạo ra khả năng mở rộng thị trường, góp phần giữ vững, nâng cao năng lực sản xuất. Thứ hai, ngoại thương giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương theo hướng hiện đại.
Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, đối với các tỉnh công nghiệp, thương mại quốc tế tạo cơ sở cho quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa là ’ một biện pháp khắc phục đói nghèo và chậm phát triển. Ở các tỉnh đang công nghiệp hóa hiện đại hóa, quy mô và trình độ sản xuất còn hạn chế. Do vậy ngoại thương tạo cơ sở cho quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, góp phần xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại hơn, tránh nguy cơ tụt ’ hậu. 10 Thứ ba, ngoại thương là cơ sở để thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại.
Xuất nhập khẩu có mối quan hệ qua lại, tác động chặt chẽ với nhau. Khi xuất khẩu phát triển tạo điều kiện mở rộng quy mô và năng lực sản xuất trong nước nói chung và trong địa phương nói riêng. Nhờ đó thúc đẩy các mối quan ’ hệ tín dụng, đầu tư quốc tế, chuyển giao công nghệ…Ngược lại, hoạt động kinh tế đối ngoại khác phát triển cũng kích thích hoạt động xuất, nhập khẩu phát triển. Ngoài ra, hoạt động xuất nhập khẩu còn thúc đẩy sự phát triển của các ngành kinh tế khác như dịch vụ, giao thông vận tải, thông tin liên lạc… Thứ tư, hoạt động ngoại thương có tác động tích cực đến việc giải quyết các vấn đề việc làm, cải thiện đời sống nhân dân.
Đẩy mạnh hoạt động xuất nhập khẩu là một biện pháp hữu hiệu để giải quyết việc làm. Thông qua hoạt động này, quy mô các ngành sản xuất được mở ’ rộng, nhiều ngành, nghề mới ra đời. Từ đó thúc đẩy các mối quan hệ đối ngoại khác như: du lịch, xuất khẩu lao động… do đó sẽ thu hút nhiều lao động, góp phần giải quyết việc làm, nâng cao đời sống nhân dân. Thực tiễn hoạt động ngoại thương và bài học kinh nghiệm cho Thái Nguyên 1.
Hoạt động ngoại thương của tỉnh Bắc Ninh Bắc Ninh là một tỉnh có lịch sử phát triển ngoại thương tương đối sớm so với cả nước, có những lợi thế đó nên tỉnh đã đạt được những đột phá trong giai đoạn 2010 – 2019. Từ năm 2010 cho đến nay, Bắc Ninh liên tục nằm trong những tỉnh dẫn đầu về kinh ngạch xuất nhập khẩu không ngừng tăng.