ĐẶT VẤN ĐỀ Trong những năm qua, Việt Nam đã sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng đặc trƣng của miền nhiệt đới nóng ẩm. Một trong những mặt hàng đặc trƣng đấy phải kể đến các sản phẩm của cây Hồi. Đây là loài cây đặc sản thuộc nhóm cây lâm sản ngoài gỗ. Sảm phẩm Hoa Hồi Lạng Sơn đƣợc Cục sở hữu trí tuệ và bầu trọn là TOP 10 sản phẩm thiên nhiên tốt nhất.
Nhiều nghiên cứu trên quan điểm phát triển Nông – Lâm – Môi trƣờng – Bảo tồn đa dạng sinh học cho thấy phát triển Hồi cùng một lúc đạt đƣợc nhiều mục tiêu: Kinh tế - Xã hội – Môi trƣờng. Chính vì điều đó trong những năm qua các dự án về phát triển kinh tế nông hộ, dự án phủ xanh đất trống đồi núi trọc, dự án trồng rừng Việt Đức, dự án 06 của chính phủ tiến hành trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn đã chọn cây Hồi nhƣ một giải pháp đầu tƣ thực hiện. Phát triển Hồi là định hƣớng chiến lƣợc trƣớc mắt cũng nhƣ lâu dài của tỉnh Lạng Sơn. Cây Hồi Lạng Sơn ngoài ý nghĩa lớn về kinh tế nó còn mang một sắc thái nhân văn tốt đẹp, đó là tính kế thừa truyền thống từ đời này qua đời khác một cách có ý thức.
Hồi có phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Nam Trung Quốc kéo dài xuống vùng núi phía Bắc của Việt Nam. Tại Việt Nam, cây Hồi có phân bố nhiều ở các tỉnh biên giới Việt - Trung nhƣ Cao Bằng, Bắc Kạn, Lạng Sơn, Quảng Ninh. Lạng Sơn là một tỉnh miền núi phía Bắc, có tổng diện tích tự nhiên là 832. Trong đó đất có rừng 372.500,8 ha, diện tích rừng Hồi 33.503 ha, chiếm 70% so với diện tích rừng Hồi cả nƣớc.
Hồi phân bố hầu hết ở các huyện, thành phố của Lạng Sơn, nhƣng tập trung nhiều ở các huyện: Văn Quan, Bình Gia. Diện tích trồng Hồi của 2 huyện này chiếm tới 55,9% diện tích trồng Hồi toàn tỉnh do ở những địa phƣơng này đất đƣợc phát triển trên đá mẹ Riolit & phiến thạch màu nâu đỏ hoặc đỏ vàng, tầng đất sâu, tỷ lệ mùn cao[12]. Với diện tích rừng Hồi nói trên, trong vài năm tới đây cây Hồi đến thời điểm cho thu hoạch thì đây là tiềm năng rất lớn đem lại hiệu quả kinh tế cao cho bà con các dân tộc tỉnh Lạng Sơn. 1 Văn Lãng là một huyện nổi tiếng từ lâu về trồng Hồi, song do nhiều yếu tố chi phối nên việc phát triển và mở rộng quy mô Hồi của huyện gặp không ít khó khăn.
Những năm 1995 trở lại đây có nhiều thay đổi trên bình diện chung của cả nƣớc và của Lạng Sơn nói riêng: Về kinh tế, chính trị, về giao lƣu thị trƣờng, cây Hồi đang có cơ hội để phát triển. Trong những năm gần đây, do nhu cầu sử dụng tinh dầu Hồi trên thế giới ngày càng tăng, giá cả thị trƣờng tƣơng đối ổn định, cây Hồi đƣợc trả đúng vị trí của nó. Hơn nữa, Hồi còn là cây đa mục đích, vừa mang lại hiệu quả kinh tế cao cho ngƣời dân vừa có tác dụng che phủ bảo vệ đất cũng nhƣ bảo vệ môi trƣờng sinh thái lâu dài và bền vững. Trong chƣơng trình trồng mới 5 triệu ha rừng giai đoạn 2001 – 2010 của chính phủ, Hồi là một trong những cây trồng chính của tỉnh Lạng Sơn.
Đồng thời cũng là cây góp phần xoá đói giảm nghèo chủ yếu cho đồng bao các Dân tộc vùng sâu vùng xa của tỉnh. Khóa luận nghiên cứu “Thực trạng gây trồng và tiêu thụ các sản phẩm từ cây Hồi (Illicium verum Hook) trên địa bàn huyện Văn Lãng – tỉnh Lạng Sơn” rất cần thiết, thông qua đánh giá thực trạng gây trồng và tiêu thụ để tổng hợp đƣợc những tồn tại, khó khăn làm cơ sở đề xuất giải pháp phát triển vùng Hồi của địa phƣơng. 2 Chƣơng 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ CÂY HỒI Trong hệ thực vật Việt Nam, chi Hồi (Illicium) có nguồn gen rất phong phú, rất đa dạng, hiện đó thống kê đƣợc khoảng 16 loài. Tất cả các loài trong chi Hồi (Illicium) ở nƣớc ta đều chứa tinh dầu với các thành phần hoá học khác nhau.
Ở một số loài tinh dầu lại chứa chủ yếu là safrol, linalool và methyl eugenol… Các loài trong chi Hồi ở Việt Nam là nguồn gen quý cần đƣợc nghiên cứu để khai thác, bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững. Ngoài ra, tinh dầu Hồi còn đƣợc dùng làm hƣơng liệu để chế biến các đồ mỹ phẩm cao cấp. Sau khi ép lấy tinh dầu, bã còn lại dùng làm thuốc trừ sâu, làm men, than hoạt tính, phân bón, thức ăn gia súc.[12] Trong quá trình tồn tại và phát triển của xã hội loài ngƣời có liên quan mật thiết đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Cùng với tốc độ phát triển của kinh tế thì nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm của cây Hồi ngày càng tăng.
Vì vậy việc nghiên cứu để hiện trạng gây trồng và thị trƣờng tiêu thụ các sản phẩm của cây Hồi cần đƣợc coi trọng. Cây Hồi là nguyên liệu quý trong công nghiệp dƣợc phẩm và thực phẩm. Không chỉ ở châu Á (đặc biệt là các nƣớc khu vực Đông Nam Á), mà tại nhiều nƣớc châu Âu (Pháp, Đức, Ý…) và châu Mỹ (Hoa Kỳ, Cu Ba…) quả và tinh dầu Hồi đƣợc coi là gia vị ƣa thích trong chế biến thực phẩm. Trong danh mục các thƣơng phẩm an toàn đƣợc phép sử dụng trong sản xuất thuốc và chế biến thực phẩm của Hoa Kỳ, quả hồi mang ký hiệu “GRAS 2095” và tinh dầu Hồi mang ký hiệu “GRAS 2096”.
Hồi lại là nguồn nguyên liệu có thể tách chiết acid shikimic, nguồn nguyên liệu để tổng hợp chất Osaltamivir - hoạt chất của thuốc tamiflu - hiện đƣợc coi là thuốc kháng virus có hiệu quả trong việc phối hợp điều trị cúm gia cầm H5N1 trên ngƣời nếu đƣợc sử dụng ở giai đoạn sớm. Theo thống kê (chƣa đầy đủ) thì diện tích rừng Hồi ở Lạng Sơn, Quảng Ninh tới năm 2005 đạt trên 30.000 ha, với sản lƣợng quả là 3. Dự kiến đến năm 2010 chúng ta sẽ có thêm 20. Riêng tinh dầu, hàng năm cũng đó chƣng cất đƣợc từ 150 – 250 tấn.
Quả Hồi 3 và tinh dầu Hồi là mặt hàng xuất khẩu có giá trị trên thị trƣờng thế giới. Trong những năm (1994 – 1997), giá mua bán tinh dầu Hồi trong khoảng 9.900 USD/tấn và quả Hồi khô trong khoảng 1. Cây Hồi trồng sau 7 – 8 năm bắt đầu bói quả và sai quả ở độ tuổi 20-60 năm. Với rừng Hồi có năng suất cao nhất có thể đạt 30 – 40 kg quả khô/cây/năm; trung bình 10 – 15 kg quả khô/cây/năm.
Năm 2008 thì sản lƣợng khai thác Hoa Hồi bình quân tính từ năm 2000 – 2008 đạt 5.161 tấn bằng 52-65% mục tiêu đặt ra (8. Trên thế giới Cây Hồi (Illicium verum Hook) chỉ phân bố ở một số nƣớc nhƣ Ấn Độ, Nhật Bản, phía nam Trung Quốc và Việt Nam. Trên thị trƣờng thế giới, Hồi là tên thƣơng mại chung cho các loại sản phẩm của hai loài thực vật khác nhau, Đại Hồi (Illicium verum) và Tiểu hồi (Anisum pimpinella). Hầu hết lƣợng tinh dầu Hồi giao dịch trên thƣờng thế giới có nguồn gốc từ cây Đại Hồi (thƣờng gọi là cây Hồi - Illicium verum), đƣợc trồng chủ yếu ở vùng Viễn Đông, tập trung ở Trung Quốc hai tỉnh Quảng Đông và Quảng Tây Trung Quốc và ở Việt Nam cung cấp trên 80% tổng sản lƣợng Hồi toàn cầu.
Ngoài hai nƣớc sản xuất chính là Trung Quốc và Việt Nam, gần đây Nhật Bản, Indonesia cũng trồng và sản xuất một số sản phẩm thƣơng mại từ cây Hồi (quả Hồi phơi khô và tinh dầu Hồi). Theo đánh giá chung, sản lƣợng và chất lƣợng tinh dầu Hồi của các nƣớc này không cao. Những năm gần đây, một số nƣớc nhƣ Ấn Độ, Lào, Philipin,. Cũng trồng thử nghiệm cây Hồi nhƣng sản lƣợng không đáng kể.
Do vậy, tới nay Trung Quốc và Việt Nam vẫn là hai quốc gia sản xuất Hồi chủ yếu trên thế giới. Tuy nhiên, công nghiệp chƣng cất tinh dầu Hồi lại tập trung chủ yếu ở các nƣớc nhập khẩu nhƣ Hoa Kỳ, Pháp, Nga, Tây Ban Nha và Ba Lan. Tinh dầu từ cây Tiểu Hồi (Pimpinella anisum), có vị ngọt và mùi dễ chịu hơn, nhƣng sản lƣợng khá hạn chế so với Đại Hồi. Tiểu Hồi có nguồn gốc ở vùng đông Địa Trung Hải và Tây Nam Á và hiện đƣợc trồng ở nhiều 4 nƣớc nhƣ Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Nga, Tây Ban Nha, Italia, Ấn Độ, Hy Lạp, Bắc Phi, Argentina, Malta, Romania và Syria.Trong những năm gần đây, Đại Hồi đƣợc các nƣớc phƣơng Tây sử dụng nhƣ chất thay thế cho Tiểu Hồi trong công nghiệp thực phẩm cũng nhƣ dƣợc phẩm do giá rẻ hơn và nguồn cung lớn hơn.
Hồi là một thành phần để chế rƣợu anis, hƣơng liệu, làm thuốc chữa bệnh và là một thành phần đặc trƣng không thể thiếu đƣợc trong ẩm thực của nhiều nƣớc. Sản phẩm chủ yếu từ cây Hồi hiện đƣợc buôn bán trên thị trƣờng thế giới gồm hai loại chính: - Quả Hồi sấy (hoặc phơi) khô, thƣờng đƣợc gọi là “Hoa Hồi” là sản phẩm tiêu thụ chủ yếu trên thị trƣờng. Hồi khô có hƣơng vị đặc biệt, là hƣơng liệu thiên nhiên đƣợc sử dụng rộng rãi trong chế biến thực phẩm, dƣợc phẩm, mỹ phẩm, thức ăn gia súc.Quả Hồi khô đƣợc dùng rộng rãi trong đời sống hàng ngày của ngƣời dân nhiều nƣớc, kể cả các nƣớc không trồng đƣợc Hồi nhƣ các nƣớc Châu Âu và Trung Đông. - Tinh dầu Hồi là sản phẩm chủ yếu thu từ quả Hồi và thân lá hồi với thành phần chủ yếu là Anethole (ƣớc tính chiếm khoảng 80% - 90%), là hƣơng liệu quan trọng trong sản xuất rƣợu thơm, trong công nghiệp thực phẩm dƣợc phẩm.
Trong công nghiệp hoa chất, dầu Hồi và các chất tinh cất nhƣ Oleom Anisi Stellati, Anethole và Anisi aldehyde, Anisonitrile.đƣợc dùng làm làm hƣơng liệu cao cấp, là thành phần quan trọng để sản xuất nƣớc hoa và các hóa mỹ phẩm khác. Trong những năm gần đây, dầu Hồi đƣợc quan tâm hơn nhƣ là nguyên liệu chính để sản xuất Tamiflu chữa bệnh cúm, hiện đƣợc là loại thuốc chữa dịch cúm hiệu nghiệm nhất trên thế giới. Nhu cầu của thế giới đối với nguyên liệu Hồi và sản phẩm Hồi vẫn đang có xu hƣớng tăng, đặc biệt là với các sản phẩm hữu cơ. Châu Âu, Bắc Mỹ, Hoa Kỳ, Nhật Bản và thị trƣờng các quốc gia Hồi giáo là những nƣớc sử dụng các sản phẩm Hồi lớn nhất thế giới.
Xuất khẩu Hồi trên thế giới : Theo Trung tâm thƣơng mại quốc tế, năm 2009 đạt 20.