Chương 1: Giới thiệu • Chương 2: Cơ sở lý luận • Chương 3: Phương pháp nghiên cứu • Chương 4: Kết quả nghiên cứu • Chương 5: Kết luận và đề nghị • Tài liệu tham khảo • Phụ lục Khóa luận tốt nghiệp Trang |4 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2. Khái quát chung về hoạt động giao nhận hàng hóa và người giao nhận 2. Khái niệm giao nhận hàng hóa Giao nhận hàng hóa là một ngành dịch vụ xuất hiện đã khá lâu đời, với sự đi đầu và tiên phong trong lĩnh vực này là hãng VANSAI (Thụy Sỹ). Ngày trước, việc này có thể do chính người bán hoặc người mua đứng ra tổ chức thực hiện, hoặc một trong hai bên thuê bên vận tải thứ ba thực hiện.
Tuy nhiên, khi lượng hàng hóa cần được vận chuyển ngày càng lớn và có quy mô rộng khắp hơn, giao nhận hàng hóa đã dần dần trở nên chuyên môn hóa hơn, trở thành một ngành dịch vụ riêng biệt. Cho đến thời điểm hiện tại, ngành dịch vụ giao nhận đang đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế toàn cầu, giúp thúc đẩy việc giao thương hàng hóa trở nên dễ dàng, nhanh chóng và tiện lợi hơn bao giờ hết. Trên thế giới hiện nay, có rất nhiều định nghĩa được đưa ra từ những tổ chức, cơ quan hoạt động trong lĩnh vực logistics. Dưới đây là hai định nghĩa do Hiệp hội Giao nhận Kho vận Quốc tế FIATA và Nhà nước Việt Nam đề ra.
Người giao nhận (Fowarder, Freight Forwarder hay Forwarding Agent) là người thu xếp chuyên chở toàn bộ hàng hóa theo hợp đồng ủy thác và hoạt động vì lợi ích của người ủy thác mà bản thân họ không phải là người chuyên chở. Người giao nhận cũng đảm bảo thực hiện mọi công việc liên quan đến hợp đồng giao nhân như đảm bảo lưu kho, trung chuyển, làm thủ tục hải quan kiểm hóa”. (FIATA, Freight fowarders adopt an official description of “freight forwarding and logistics services”, 2004) Khóa luận tốt nghiệp Trang |5 Giao nhận hàng hóa, hay dịch vụ Logistics, là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi ký mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hóa theo thỏa thuận với khách hàng để hưởng thù lao. (Bộ Luật Thương mại Việt Nam, 2005, điều 233, mục 4) Dựa vào hai định nghĩa được nêu ở trên, ta có thể hiểu giao nhận hàng hóa là một hoạt động thương mại, trong đó một cá nhân, tổ chức nào đó thay mặt chủ hàng thực hiện một hoặc nhiều công việc liên quan đến hoạt động logistics, nhằm đảm bảo quá trình đó được diễn ra liên tục, nhanh chóng, đúng thời gian, địa điểm và quan trọng nhất là đúng quy định của pháp luật.
Tổ chức thay mặt chủ hàng thực hiện hoạt động giao nhận sẽ được hưởng thù lao sau khi hoàn thành nghĩa vụ của mình. Vai trò của ngành giao nhận Cùng với xu hướng toàn cầu hóa, hoạt động thương mại trao đổi buôn bán hàng hóa diễn ra giữa các chủ thể kinh tế, thuộc các quốc gia khác nhau càng ngày càng nhanh, thường xuyên và mang tính thiết yếu hơn. Bên cạnh mục đích thương mại, việc vận chuyển hàng hóa đúng thời gian, địa điểm, đạt chất lượng cao còn mang ý nghĩa giúp ích cho dòng chảy logistics được diễn ra trôi chảy. Bởi vì hàng hóa của công ty A là nguyên liệu hoặc linh kiện cần phải có để sản xuất ra sản phẩm của công ty B, sau đó lại được vận chuyển đến công ty C để hoàn thiện.
Nếu tiến trình này bị gãy đứt một đoạn thì sẽ gây ra hiện tượng “domino” và ảnh hưởng toàn bộ hệ thống logistics. Một cách cụ thể hơn, đối với các doanh nghiệp kinh doanh xuất nhập khẩu, giao nhận hàng hóa là một ngành dịch vụ giúp họ kết nối tốt hơn với đối tác của mình, không chỉ ở trong Khóa luận tốt nghiệp Trang |6 nước mà còn ở tất cả mọi nơi trên thế giới. Các doanh nghiệp có thể an tâm hơn trong việc đưa hàng hóa tới tay khách hàng một cách nhanh chóng và an toàn. Mặt khác, với những công ty hay tổ chức đã có nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực giao nhận thì sẽ có mối quan hệ tốt với các hãng vận tải, giúp họ có được giá cước tốt hơn, cũng như các ưu đãi tốt hơn so với việc chính chủ hàng tự đi thuê nhà vận tải thực sự.
Bên cạnh đó, những nhà kinh doanh dịch vụ giao nhận có thể cho phép khách hàng của mình nợ tiền vận chuyển hàng hóa, trong khi hãng tàu hay hãng hàng không chỉ cho nợ cước, còn tiền chi phí tại cảng hay chi phí phát sinh khác phải thanh toán trước khi nhận vận đơn. Một điều khác nữa là kinh nghiệm cũng giúp cho các công ty giao nhận lâu năm có thể hoàn tất các hồ sơ chứng từ, thuế quan, giải quyết các vấn đề phát sinh trong quá trình vận chuyển nhanh chóng, tránh làm gián đoạn hoặc gãy đứt dòng chảy logistics. Ngoài ra, khi có những khiếu nại, tổn thất xảy ra như hàng hóa bị đổ vỡ, phá hủy bởi thiên tai, cháy nổ hoặc các rủi ro khác thì các công ty giao nhận sẽ đứng ra giải quyết các tranh chấp phát sinh đối với công ty vận chuyển, công ty vận chuyển hoặc các bên liên quan khác. Điều này giúp cho chủ hàng hóa thật sự có thể tập trung vào công việc sản xuất kinh doanh hơn, tiết kiệm thời gian và công sức hơn so với việc tự đảm nhiệm công việc giao nhận.
Đối với nền kinh tế thì dịch vụ giao nhận đóng một vai trò rất lớn trong việc thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách bền vững. Trong nền kinh tế vi mô, nó giúp phục vụ và thúc đẩy hoạt động sản xuất phát triển, đáp ứng nhu cầu của xã hội về lưu thông hàng hóa; đối với nền kinh tế vĩ mô, nó giúp cho việc phát triển và mở rộng thị trường buôn bán quốc tế, mở rộng cơ cấu mặt hàng và cơ cấu thị trường buôn bán trên thế giới. Phân loại giao nhận Khóa luận tốt nghiệp Trang |7 Việc phân loại dịch vụ giao nhận tùy theo tiêu chí và quan điểm của mỗi người, mà sẽ có những cách thức khác nhau. Trong rất nhiều tài liệu, giáo trình về nghiệp vụ giao nhận, dịch vụ giao nhận được phân chia theo 04 tiêu chí sau đây: ❖ Phạm vi hoạt động • Giao nhận quốc tế: Là hoạt động giao nhận diễn ra giữa người gửi hàng của quốc gia này với người nhận hàng ở quốc gia khác.
• Giao nhận nội địa: Là hoạt động giao nhận chỉ chuyên chở hàng hóa trong phạm vi một nước. ❖ Nghiệp vụ kinh doanh • Giao nhận thuần túy: Là hoạt động giao nhận chỉ bao gồm việc gửi hàng đi hoặc nhận hàng đến. • Giao nhận tổng hợp: Là hoạt động giao nhận xuất phát từ giao nhận thuần tùy, nhưng có kèm theo một số hoạt động khác bao gồm việc xếp dở, bảo quản hàng hóa, vận chuyển đường ngắn và hoạt động lưu trữ kho. ❖ Phương thức vận tải • Giao nhận hàng hóa bằng đường biển • Giao nhận hàng không • Giao nhận đường thủy • Giao nhận đường sắt • Giao nhận đường bộ • Giao nhận bưu điện • Giao nhận đường ống • Giao nhận vận tải đa phương thức (Multimodal Transport Operator – MTO) Khóa luận tốt nghiệp Trang |8 ❖ Tính chất giao nhận • Giao nhận riêng: Là hoạt động giao nhận do người xuất nhập khẩu tự tổ chức thực hiện chứ không sử dụng dịch vụ của người giao nhận.
• Giao nhận chuyên nghiệp: Là hoạt động giao nhận do các tổ chức, công ty chuyên kinh doanh dịch vụ giao nhận tiến hành. Khái niệm người giao nhận Tương tự như khái niệm ngành giao nhận, “Người giao nhận” cũng được giải thích theo nhiều cách thức khác nhau. Tổ chức FIATA chỉ định nghĩa một cách đơn giản người giao nhận là người kí kết hợp đồng cung cấp dịch vụ giao nhận với một khách hàng nào đó. Ngoài ra, dựa vào hai khái niệm về ngành giao nhận hàng hóa, ta có thể hiểu khái quát được người giao nhận sẽ là tổ chức, cá nhân thực hiện công việc giao nhận theo sự ủy thác của khách hàng hoặc chủ hàng.
Nói cách khác, người kinh doanh dịch vụ giao nhận thì được gọi là người giao nhận. Người giao nhận đôi khi cũng chính là chủ hàng, nếu như họ tự mình thực hiện công việc vận chuyển hàng hóa. Tuy nhiên trên thực tế hiện nay, việc này rất hiếm khi xảy ra, vì tính chất phức tạp của công việc giao nhận, cũng như các công ty thường thuê ngoài để tập trung hơn vào việc sản xuất kinh doanh. Chức năng của người giao nhận Trước đây, dịch vụ giao nhận trước đơn được thực hiện ở mức độ giản đơn hơn rất nhiều so với hiện tại.
Những người giao nhận chỉ nhận ủy thác của chủ hàng để thực hiện một vài chức năng một trong vài công việc như xếp dỡ, lưu kho, làm các thủ tục giấy tờ, thủ tục hải quan, vận tải nội địa. Tuy nhiên, với sự thay đổi về quy mô vận chuyển hàng hóa, cùng những yếu tố liên quan khác như hiện tại, nên tính chất công việc giao nhận cũng thay đổi theo.